Theo thông tin từ Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), VPBank đã công bố lô trái phiếu có mã VPB12606 với mệnh giá 1 tỷ đồng mỗi trái phiếu, tổng giá trị thu về đạt 1.600 tỷ đồng. Lô trái phiếu có kỳ hạn 3 năm, dự kiến đáo hạn vào 5/8/2029. Lãi suất cố định của lô trái phiếu này được ghi nhận ở mức 8,8%/năm. Thông tin về trái chủ, mục đích phát hành, tài sản bảo đảm... chưa được công bố.
Trước đó, trong tháng 7, VPBank đã chào bán thành công 1.000 trái phiếu mã VPB12605, mệnh giá 1 tỷ đồng mỗi trái phiếu, huy động 1.000 tỷ đồng. Lô trái phiếu có kỳ hạn 3 năm, dự kiến đáo hạn ngày 16/7/2029 và áp dụng mức lãi suất cố định 9%/năm.
Như vậy, VPBank đã phát hành thành công 6 lô trái phiếu từ đầu năm 2026 đến nay, tất cả có mệnh giá 1 tỷ đồng. Tổng giá trị huy động qua các đợt này là 7.600 tỷ đồng, tương ứng với từng trái phiếu có giá trị từ 1.000 tỷ đồng đến 1.600 tỷ đồng.
Về hoạt động đáo hạn và mua lại, vào ngày 30/7, VPBank đã mua lại trước hạn toàn bộ lô trái phiếu mã VPB12511, gồm 1.600 trái phiếu, có kỳ hạn 3 năm và dự kiến đáo hạn vào 30/7/2029. Trước đó một ngày, lô trái phiếu mã VPB12510 đã được thanh toán trước hạn toàn bộ, gồm 2.000 trái phiếu, có kỳ hạn 3 năm và ngày đáo hạn dự kiến là 29/7/2029.
Về tình hình kinh doanh, VPBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế hợp nhất trong sáu tháng đầu năm đạt gần 18.900 tỷ đồng, tăng 68% so với cùng kỳ và hoàn thành gần 46% kế hoạch năm. Riêng quý II, lợi nhuận trước thuế của VPBank đạt gần 11.000 tỷ đồng, là quý có kết quả kinh doanh cốt lõi cao nhất trong lịch sử hoạt động của ngân hàng. Đóng vai trò đầu tàu trong hệ sinh thái, ngân hàng mẹ ghi nhận lợi nhuận trước thuế 15.600 tỷ đồng sau hai quý, tăng 45,5% so với cùng kỳ. Tổng thu nhập hoạt động hợp nhất trong nửa đầu năm đạt 43.400 tỷ đồng, tăng 35,2%. Trong đó, ngân hàng mẹ đóng góp hơn 31.600 tỷ đồng, tăng 35%.
Đến cuối tháng 6/2026, tổng tài sản hợp nhất của VPBank vượt 1,5 triệu tỷ đồng, tăng 19,2% so với cuối năm 2025. Đà mở rộng quy mô chủ yếu đến từ tăng trưởng tín dụng, với dư nợ riêng tại ngân hàng mẹ đạt gần 1,06 triệu tỷ đồng, tăng 24,6%.
Các chỉ số an toàn tiếp tục được duy trì trong giới hạn mục tiêu. Tỷ lệ nợ xấu riêng lẻ theo Thông tư 31 ở quanh mức 2%, thấp hơn mục tiêu 2,5%, trong khi tỷ lệ nợ xấu hợp nhất dưới 3%. Tỷ lệ cho vay trên huy động vốn (LDR) đạt 84,5%; tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung và dài hạn ở mức 22,4%.