Theo báo cáo tài chính quý II được tổng hợp, 11 tập đoàn lớn trên thị trường chứng khoán Việt Nam đang nắm giữ gần 800.000 tỷ đồng tiền mặt và tương đương tiền, cũng như các khoản tiền gửi ngắn hạn có thanh khoản cao. Tính đến ngày 30/6, đây được xem là một trong những xu hướng tích lũy thanh khoản nhằm phòng thủ trước biến động của thị trường. Việc tích lũy tiền mặt diễn ra đồng thời với đòn bẩy vốn được duy trì ở mức cao, cho thấy sự cân đối giữa thanh khoản và chi phí vốn trong bối cảnh lãi suất huy động tăng lên trong nửa đầu năm.
Đứng đầu danh sách là BVH - Tập đoàn Bảo Việt, đang nắm giữ 128.096 tỷ đồng tiền nhàn rỗi ngắn hạn và tổng tiền nhàn rỗi lên tới 297.000 tỷ đồng. Trong đó, tiền và tương đương tiền chiếm hơn 3.853 tỷ đồng. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn đạt hơn 124.243 tỷ đồng, còn đầu tư dài hạn lên tới 168.674 tỷ đồng. Số dư tiền gửi ngắn hạn của BVH đạt 115.668 tỷ đồng, còn tiền gửi dài hạn lên tới 51.041 tỷ đồng, với mức lãi suất cao nhất lên tới 8,9%/năm.
Tiếp theo, VIC (Vingroup) đang ở vị trí thứ hai với tổng lượng tiền mặt khoảng 105.829 tỷ đồng. Trong đó, 85.688 tỷ đồng là tiền và tiền gửi ngân hàng. Thuyết minh cho biết các khoản tiền gửi có kỳ hạn trên 3 tháng đến 1 năm có lãi suất dao động từ 3,4% đến 8,3% mỗi năm. Bên cạnh đó, Vinhomes (VHM) - công ty con của VIC - đứng ở vị trí thứ 4 với lượng tiền nhàn rỗi đạt 58.974 tỷ đồng, và tiền mặt cùng tiền gửi ghi nhận 53.178 tỷ đồng.
Ở nhóm thứ ba, MWG (Thế Giới Di Động) có 63.600 tỷ đồng tiền, tương đương tiền và các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn. Với mạng lưới bán lẻ rộng khắp, lượng tiền mặt của MWG đã tăng mạnh, đặc biệt trong nửa đầu năm nay, vượt qua nhiều đại gia khác như Vinhomes và BSR. Ngoài ra, Viettel Global (Viettel Global) đứng ở vị trí thứ năm với khoảng 54.000 tỷ đồng tiền nhàn rỗi.
Ngoài ra, một số doanh nghiệp nhà nước được nhắc tới trong báo cáo như Lọc hoá dầu Việt Nam (BSR) với 53.776 tỷ đồng tiền nhàn rỗi, toàn bộ ở dạng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng, và PV GAS với hơn 45.500 tỷ đồng. Việc nắm giữ lượng tiền mặt lớn đi đôi với việc duy trì dư nợ vay cao là hiện tượng phổ biến ở các tập đoàn quy mô lớn. Doanh nghiệp thường không dùng toàn bộ nguồn tiền có sẵn để trả nợ ngay mà cân đối giữa nhu cầu thanh khoản, vốn lưu động, gửi tiền và cho vay để sinh lãi.
Ngược lại, các tập đoàn lớn này vẫn duy trì đòn bẩy tài chính ở mức tương đối cao so với quy mô tiền mặt, cho thấy sự linh hoạt trong cách quản trị dòng tiền và nguồn vốn các dự án dài hạn. Những cơ cấu như vậy giúp họ duy trì thanh khoản để đối phó với biến động thị trường mà vẫn có thể đầu tư cho các hoạt động tăng trưởng khi cơ hội xuất hiện.