Thông tin cho biết khu vực DNNN nắm giữ khoảng 4,5 triệu tỷ đồng tài sản. Đến cuối năm 2025, cả nước có 695 DNNN, gồm 497 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và 198 doanh nghiệp cổ phần, vốn góp chi phối. Tổng tài sản toàn khu vực đạt gần 4,5 triệu tỷ đồng, vốn chủ sở hữu khoảng 2,02 triệu tỷ đồng. Doanh thu gần 2,9 triệu tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế khoảng 261.000 tỷ đồng, đóng góp ngân sách nhà nước khoảng 390.000 tỷ đồng.
Để thực thi các mục tiêu từ Nghị quyết 79-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị định 57/2026/NĐ-CP và Thông tư 103/2026/TT-BTC hướng dẫn cổ phần hóa doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Thông tư này cụ thể hóa các quy định về tài chính và định giá nhằm giải quyết các vướng mắc kỹ thuật trong quá trình cổ phần hóa.
Điểm đột phá đầu tiên tại Thông tư 103 nằm ở cơ chế phân loại và xử lý tài chính minh bạch (Điều 3). Để làm sạch sổ sách trước khi định giá, doanh nghiệp phải đối chiếu và phân loại toàn bộ các khoản nợ phải thu và phải trả với các bên liên quan. Với các nợ khó đòi hoặc công nợ tồn đọng, trách nhiệm và hướng xử lý sẽ được xác định rõ trước khi định giá.
Thứ hai, Thông tư 103 quy định cách tiếp cận giá trị doanh nghiệp theo thị trường tại thời điểm xác định giá trị (Điều 6). Đối với tài sản vật chất như máy móc, thiết bị, nhà cửa, phương pháp định giá dựa trên giá mua mới, chi phí lắp đặt và tỷ lệ chất lượng còn lại; quy định không thấp hơn 20% đối với máy móc, nhà cửa nhằm đảm bảo giá trị phản ánh đúng thực tế thị trường.
Thứ ba, để rút ngắn thời gian bàn giao tài sản, Thông tư 103 siết chặt thời hạn bàn giao giữa DNNN và công ty cổ phần, tối đa 15 ngày kể từ khi có kết quả xác định vốn nhà nước tại thời điểm doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cổ phần (Điều 5). Thứ tư, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình được nhấn mạnh ở Điều 12: doanh nghiệp cổ phần hóa phải cung cấp đầy đủ thông tin và công khai trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp cũng như trên cổng thông tin của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
Nhìn tổng thể, các nút thắt liên quan đến cổ phần hóa DNNN xuất phát từ việc phân định rõ chức năng sở hữu, quản lý kinh tế và kinh doanh. Các điểm nghẽn bao gồm sự thiếu đồng bộ giữa cơ chế giao vốn và quyền tự chủ kinh doanh, cùng với khó khăn trong xác định giá trị đất đai và xử lý các tồn tại tài chính trước khi chuyển đổi sang công ty cổ phần. Những yếu tố này khiến tiến trình cổ phần hóa bị kéo dài.
Điểm nghẽn thứ hai liên quan đến khung pháp lý cho xử lý nợ và đầu tư ngoài ngành, đòi hỏi quy trình phê duyệt phức tạp. Điểm nghẽn thứ ba là tâm lý thận trọng của lãnh đạo doanh nghiệp trong giai đoạn chuyển giao khi ranh giới giữa rủi ro thị trường và hành vi vi phạm còn chưa được xác định rõ. Kết luận 14-KL/TW và Nghị định 73/2023/NĐ-CP được nêu ra như nền tảng để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, đồng thời tăng cường khung thể chế để thúc đẩy đổi mới.
Để tháo gỡ triệt để các nút thắt, cần đẩy mạnh vai trò của SCIC và xem xét mô hình Quỹ đầu tư quốc gia chuyên nghiệp như một bước tách biệt chức năng quản lý Nhà nước khỏi chức năng chủ sở hữu vốn. Cùng với đó, cần thiết lập quy trình xem xét độc lập, minh bạch để phân định rõ giữa sai sót khách quan và vi phạm pháp luật, từ đó tăng động lực cho người quản lý đề xuất các phương án theo tín hiệu thị trường.
Theo định hướng tại Nghị quyết 79-NQ/TW, các cơ chế mới cần được triển khai song song với sự tham gia của các tổ chức tư vấn định giá và kiểm toán độc lập. Việc áp dụng nguyên tắc đánh giá hiệu quả tổng thể dựa trên mục tiêu được kỳ vọng sẽ làm tăng tính minh bạch và niềm tin của nhà đầu tư. Khi thể chế được hoàn thiện và vốn được vận hành bởi các tổ chức chuyên trách hoạt động theo cơ chế thị trường, khu vực DNNN được kỳ vọng sẽ có thêm không gian để phát huy hiệu quả nguồn lực và hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp cổ phần có tính cạnh tranh cao hơn.
Khung thể chế được đề xuất nhằm tách bạch chức năng quản lý vốn của Nhà nước với chức năng quản trị doanh nghiệp, đồng thời tăng cường sự tham gia của SCIC và kêu gọi sự vào cuộc của các cơ quan liên quan để đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả nguồn lực công.