Theo bà Hoàng Thị Tuyết Hạnh, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Chứng khoán OCBS, việc FTSE Russell chính thức nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp là cơ sở để kỳ vọng dòng vốn quốc tế quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên, bà nhấn mạnh quá trình phân bổ vốn sẽ diễn ra từng bước, tùy thuộc vào chiến lược của từng nhóm nhà đầu tư.
Với các quỹ đầu tư theo chỉ số, việc điều chỉnh danh mục sẽ diễn ra theo lộ trình của FTSE từ tháng 9/2026 đến tháng 9/2027, trong đó đợt đầu mới đưa vào 10% tỷ trọng dự kiến. Do đó, tác động của việc nâng hạng cần được nhìn nhận trong cả quá trình thay vì chỉ ở một thời điểm. Trong khi đó, với các quỹ chủ động, nâng hạng mới chỉ là điều kiện mở đầu; quyết định phân bổ vốn còn phụ thuộc vào triển vọng tăng trưởng, chất lượng lợi nhuận, dòng tiền của doanh nghiệp, định giá, thanh khoản và bối cảnh kinh tế vĩ mô.
Bà Hạnh cho rằng điều quan trọng hơn là Việt Nam có thể chuyển sự quan tâm sau nâng hạng thành dòng vốn đầu tư thực chất và dài hạn đến mức nào. Một doanh nghiệp có triển vọng tốt nhưng cổ phiếu vẫn cần đáp ứng các điều kiện đầu tư thực tế của các tổ chức lớn về quy mô, thanh khoản và khả năng tiếp cận. Với nhà đầu tư tổ chức, khả năng tạo lợi nhuận bền vững, chất lượng quản trị, tính minh bạch và mức định giá là những yếu tố quan trọng khi quyết định phân bổ vốn dài hạn.
Bà Hạnh đồng tình với định hướng tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để phát triển các mô hình, sản phẩm và công cụ mới phù hợp với xu hướng quốc tế. Mục tiêu huy động vốn qua thị trường chứng khoán giai đoạn 2026-2030 khoảng 5,4 triệu tỷ đồng (chưa bao gồm trái phiếu Chính phủ) đặt ra yêu cầu thị trường phải đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp.
Về hạ tầng, cơ chế giao dịch không yêu cầu nhà đầu tư tổ chức nước ngoài phải ký quỹ 100% tiền trước giao dịch đã tháo gỡ một nút thắt quan trọng. Việc triển khai cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP) sẽ góp phần hoàn thiện hạ tầng bù trừ, thanh toán và nâng cao năng lực quản trị rủi ro. Các công ty chứng khoán, ngân hàng lưu ký cũng phải nâng cao năng lực vốn, công nghệ và quản trị rủi ro tương ứng với quy mô thị trường.
Ở phía doanh nghiệp, cơ chế đăng ký niêm yết đồng thời với chào bán lần đầu ra công chúng được bà Hạnh đánh giá là một bước tiến tích cực, đặc biệt quan trọng với nhà đầu tư tổ chức vì khả năng tiếp cận và thanh khoản của cổ phiếu là những yếu tố quan trọng trong quyết định phân bổ vốn. Bà nhấn mạnh: “Điều chúng ta hướng tới không chỉ là có thêm sản phẩm hay giao dịch sôi động hơn, mà là nâng cao hiệu quả phân bổ vốn của thị trường”.
Theo bà Hạnh, sau nâng hạng, mục tiêu không chỉ là thu hút vốn quốc tế mà còn phải tạo điều kiện để dòng vốn này đồng hành lâu dài với doanh nghiệp Việt Nam. Nâng hạng mở ra cơ hội tiếp cận những nguồn vốn lớn hơn, nhưng chất lượng doanh nghiệp và năng lực quản trị mới là nền tảng để tận dụng cơ hội đó. Dẫn kết quả kỳ đánh giá quản trị công ty ASEAN năm 2024, bà cho biết điểm bình quân của nhóm doanh nghiệp Việt Nam khoảng 60 điểm, trong khi Malaysia và Thái Lan đều trên 100 điểm, cho thấy khoảng cách cần thu hẹp.
Với nhà đầu tư tổ chức, đặc biệt là các quỹ quốc tế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận luôn được đặt trong mối liên hệ với chất lượng tăng trưởng. Họ quan tâm doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hay không, lợi nhuận có chuyển thành dòng tiền, chiến lược có được thực hiện nhất quán và các quyết định quan trọng có bảo đảm lợi ích của cổ đông hay không. Vì vậy, minh bạch không chỉ dừng ở việc công bố đầy đủ thông tin mà còn phải bảo đảm thông tin có chất lượng, tính kịp thời và khả năng tiếp cận của nhà đầu tư.
Bà Hạnh cho rằng việc nâng chuẩn quản trị phải bắt đầu từ cách doanh nghiệp ra quyết định và chịu trách nhiệm với cổ đông. Hội đồng quản trị cần thực hiện tốt vai trò giám sát, ban điều hành phải giải trình được hiệu quả sử dụng vốn; các giao dịch với bên liên quan và nguy cơ xung đột lợi ích cần được minh bạch, xử lý công bằng và bảo vệ quyền lợi của cổ đông, kể cả cổ đông thiểu số. Với nhà đầu tư tổ chức, chất lượng quản trị ảnh hưởng trực tiếp đến đánh giá rủi ro, định giá, quy mô phân bổ vốn và thời gian nắm giữ, ngày càng trở thành yếu tố quan trọng trong quyết định đầu tư dài hạn.