Theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán được áp dụng với mức thuế suất 0,1% cho mỗi lần chuyển nhượng. Quy định này bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác theo quy định pháp luật. Nghị định này quy định chi tiết một số điều và biện pháp để thi hành Luật TNCN.
Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán được nêu rõ gồm các trường hợp liên quan đến cổ phiếu của cá nhân trong công ty cổ phần và các trường hợp khác được liệt kê tại Điều 54 của văn bản pháp lý.
Giá chuyển nhượng được xác định như sau:
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế phụ thuộc vào loại chứng khoán và hình thức giao dịch:
Khi cá nhân tham gia góp vốn bằng chứng khoán, thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định và nộp thuế theo quy định hiện hành. Việc nộp thuế áp dụng khi cá nhân rút vốn hoặc giải thể doanh nghiệp và ràng buộc nộp thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân góp vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn hoặc đầu tư vốn cũng phải nộp theo quy định.
Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng chứng khoán khi góp vốn được xác định dựa trên giá trị chứng khoán tại thời điểm góp vốn và hợp đồng góp vốn. Nếu rút một phần vốn, thuế sẽ được tính cho phần chứng khoán đã chuyển nhượng cho đến khi hai bên cân bằng về giá trị tham gia.
Việc xác định thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán phái sinh sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật chứng khoán và các văn bản pháp lý liên quan. Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ quy định chi tiết về thuế TNCN đối với thu nhập từ chứng khoán phái sinh.