Việc nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được đánh giá là biện pháp nới lỏng có tính toán để hỗ trợ nền kinh tế
Nới “room” tín dụng cho ngân hàng
Theo Thông tư 25/2026/TT-NHNN ban hành, từ ngày 1/7 tới, tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng thương mại sẽ tăng lên 40%. Trước đó, theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN, mức trần này từng được hạ xuống 30% từ lộ trình 40% và giảm dần trước khi quy định này áp dụng, với mức 34% và cuối cùng 30% kể từ ngày 1/10/2023.
Theo đánh giá của các chuyên gia, quy định mới này sẽ giúp các ngân hàng có thêm nguồn vốn để cho vay trung, dài hạn và có điều kiện hạ mặt bằng lãi suất cho vay.
Cùng với việc nới trần, Thông tư 25/2026/TT-NHNN cho phép các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ LĐR (lending-to-deposit ratio), từ đó giảm bớt áp lực thanh khoản cho các ngân hàng.
Đáng chú ý, NHNN ban hành cơ chế tín dụng đặc biệt đối với 18 dự án trọng điểm của Vingroup, Sun Group và Masterise, với tổng nhu cầu vốn huy động lên tới 752.000 tỷ đồng. Theo đó, dư nợ cho vay đối với các dự án này sẽ được loại trừ khi tính toán hạn mức tăng trưởng tín dụng (room tín dụng) của các ngân hàng tham gia tài trợ vốn.
Dẫu vậy, khi room tín dụng và tỷ lệ trần vốn ngắn hạn được tăng lên, dư địa tăng trưởng sẽ không đồng đều giữa các ngân hàng. Quy mô giải ngân, nguồn vốn và chất lượng tài sản là các biến số phân hóa từng nhà băng.
Hiện tại, Vietcombank có quy mô tín dụng lớn và nguồn vốn dồi dào cùng chất lượng tài sản ổn định. Cuối quý I/2026, tiền gửi khách hàng đạt 1.682.032 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu ở mức 234.031 tỷ đồng, dư nợ cho vay khách hàng đạt 1.754.926 tỷ đồng (tăng 4,86% so với cuối năm 2025 và 19,68% so với cùng kỳ). Riêng trong quý I, dư nợ tăng thêm 81.401 tỷ đồng. Cho vay trung dài hạn đạt 742.430 tỷ đồng, chiếm 42,31% tổng dư nợ. Theo NHNN, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của Vietcombank tại ngày 31/3 ở mức 84,54%, dưới ngưỡng tối đa 85%.
Tại Techcombank, dư nợ cho vay khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt 796.864 tỷ đồng, tăng 3,81% so với cuối năm 2025 và 20,07% so với cùng kỳ. Trong đó, cho vay trung dài hạn đạt 497.070 tỷ đồng, chiếm 62,38% tổng dư nợ. Vốn chủ sở hữu đạt 186.683 tỷ đồng, tương đương 23,43% dư nợ cho vay. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn của ngân hàng chỉ ở mức 26,9%; LDR riêng lẻ đạt 80,5%.
Theo công bố của các ngân hàng, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vào cuối quý I/2026 cho thấy sự phân hóa. Tỷ lệ này ở VPBank 28,3%; Techcombank 26,9%; MSB 25,8%; VietinBank 25,7%; VIB 25%; ACB 24,9%; và HDBank khoảng 22,9%.
Công ty VCBS ước tính, nhờ tác động của việc nới trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn của hệ thống sẽ quay về mức 48 - 49% như giai đoạn 2020-2021 (năm 2025 ghi nhận 46%), tương đương với tốc độ tăng trưởng được dự báo khoảng 23% trong năm 2026.
Việc nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung, dài hạn lên 40% được các chuyên gia VCBS cho là một biện pháp nới lỏng có tính toán để hỗ trợ nền kinh tế, tạo thời gian và không gian cho các ngân hàng tích lũy nguồn lực trước khi bước vào giai đoạn chuẩn hóa Basel III khắt khe hơn từ năm 2028.
Theo VCBS, động thái chính sách này giúp các ngân hàng giảm áp lực huy động vốn kỳ hạn dài và cải thiện biên lãi ròng. Trong bối cảnh lãi suất huy động dài hạn thường cao hơn đáng kể so với ngắn hạn, việc được phép sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn sẽ giảm tải cho việc phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2 kỳ hạn dài và từ đó cải thiện chi phí vốn, hỗ trợ NIM của ngành ngân hàng trong nửa cuối năm 2026.
TS. Huỳnh Trung Minh, chuyên gia tài chính, cho rằng việc điều chỉnh tỷ lệ sử dụng tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung dài hạn sẽ tác động tích cực đến khai thác và sử dụng vốn, đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế trong 2026.
Lĩnh vực sử dụng nhiều vốn dài hạn sẽ hưởng lợi
Khi trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được nâng lên, các ngân hàng có tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cao sẽ hưởng lợi rõ rệt, đặc biệt nhóm ngân hàng quy mô nhỏ và có tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh. Các ngân hàng đã duy trì tỷ lệ thấp trong vài năm gần đây sẽ chịu ít tác động hơn.
Theo giới phân tích, trong bối cảnh nền kinh tế chịu áp lực tăng trưởng, quy định mới là cần thiết. Các lĩnh vực được dự báo hưởng lợi gồm ngân hàng (biên lãi được cải thiện và dư địa mở rộng tín dụng) và bất động sản cùng các ngành đòi hỏi vốn dài hạn như sản xuất công nghiệp, dự án hạ tầng và khu công nghiệp.
Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi, nhấn mạnh đây không phải là nới lỏng đơn thuần mà là một bước điều chỉnh mang tính linh hoạt, tạo dư địa tài chính cho nền kinh tế trước nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng tăng.
P
Chủ thể hoạt động ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn và cho vay dài hạn; khi trần ngắn hạn được nâng lên, khoảng cách kỳ hạn sẽ gia tăng. Đối với thị trường bất động sản, chính sách mới có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án khả thi cao, như nhà ở xã hội và bất động sản công nghiệp, cũng như các dự án đã hoàn thiện pháp lý.
Tuy nhiên, chuyên gia lưu ý việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay dài hạn có thể làm tăng rủi ro kỳ hạn khi gặp biến động thị trường hoặc sự thay đổi trong hành vi gửi tiền. Do đó, cần tiếp tục tăng vốn điều lệ và thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn bao gồm chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Chính quyền địa phương; đồng thời phát triển các quỹ đầu tư dài hạn và các định chế tài chính phi ngân hàng để tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc thị trường.
Ông Lê Hoài Ân, giảng viên Trường đại học Ngân hàng TP.HCM, nhấn mạnh nếu tăng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được dùng lâu dài, rủi ro kỳ hạn có thể gia tăng; nền kinh tế muốn tăng trưởng bền vững cần thị trường trái phiếu minh bạch và sự tham gia của các quỹ đầu tư hạ tầng và các định chế tài chính phi ngân hàng.