Sáng 23/8, Quốc hội chính thức thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) với tỷ lệ tán thành cao. Sau hơn 3 năm thực hiện Luật Dầu khí 2022, những vướng mắc về phân cấp, thẩm quyền và thủ tục đầu tư đã khiến tiến độ nhiều dự án chưa đạt kỳ vọng. Luật mới được kỳ vọng rút ngắn thời gian phê duyệt, đặc biệt với các dự án thượng nguồn, từ đó mở ra chu kỳ đầu tư mới cho ngành dầu khí.
Trong bối cảnh các mỏ lớn truyền thống suy giảm, nguồn tài nguyên mới ngày càng khó khai thác, việc kéo dài tiến độ không chỉ làm chậm sản lượng mà còn tăng chi phí vốn. Luật sửa đổi phân định rõ thẩm quyền giữa Chính phủ, Bộ Công Thương và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN). PVN được trao thêm quyền chủ động trong các nội dung kỹ thuật, giúp giảm bước phê duyệt trung gian.
Chính sách đối với mỏ nhỏ, mỏ cận biên, nước sâu, xa bờ cũng được hoàn thiện theo hướng thuận lợi hơn về cơ chế thu hồi chi phí và ưu đãi. Các hoạt động nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR), khai thác tận thu sau khi hết hạn hợp đồng cũng được bổ sung khung pháp lý. Đáng chú ý, luật lần đầu đưa hoạt động thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2 (CCS) vào khung pháp lý cấp luật, mở ra hướng kinh doanh mới cho PVN.
Theo Công ty Chứng khoán MB (MBS), nhóm thượng nguồn Việt Nam đang đứng trước chu kỳ đầu tư mới khi PVEP dự kiến tổng mức đầu tư khoảng 175.000 tỷ đồng giai đoạn 2026-2030, gấp 4 lần giai đoạn trước. Đây là dư địa công việc lớn cho PVS và PVD – hai doanh nghiệp dịch vụ thượng nguồn chủ chốt.
Với PVS, lợi ích lớn nhất đến từ vị thế trong chuỗi xây lắp EPCI và công trình biển. Doanh nghiệp đang tham gia các dự án lớn như Lô B - Ô Môn, Lạc Đà Vàng, cùng backlog khoảng 7 tỷ USD. Riêng năm 2026, giá trị backlog mảng cơ khí và xây lắp dự kiến vượt 1 tỷ USD, tập trung vào các gói EPCI trụ cột.
MBS cũng lưu ý biên lợi nhuận mảng M&C hiện khá mỏng, cần theo dõi sát tiến độ từng dự án. Ngoài dầu khí truyền thống, PVS còn có lợi thế mở rộng sang năng lượng ngoài khơi và CCS nhờ năng lực chế tạo, cảng dịch vụ và công trình biển.
Đối với PVD, nhu cầu thăm dò mỏ mới ngày càng cấp thiết khi mỏ nội địa suy giảm, tạo dư địa cho mảng kỹ thuật giếng khoan (chiếm 35-40% doanh thu). Thị trường giàn khoan quốc tế đang thuận lợi với tỷ lệ sử dụng trên 95% tại Đông Nam Á, giúp PVD có khả năng tái ký hợp đồng với giá thuê 100.000-150.000 USD/ngày trong 2-3 năm tới.
Công ty Chứng khoán Mirae Asset Việt Nam đánh giá trung nguồn trở thành mắt xích quan trọng khi các mỏ khí chủ lực suy giảm, trong khi nhu cầu điện khí và LNG tăng. Ngắn hạn, LNG cho Nhơn Trạch 3&4 và mở rộng kho Thị Vải là động lực đáng chú ý. Kế hoạch đầu tư hạ tầng khí giai đoạn 2026-2030 với quy mô 60.000-100.000 tỷ đồng mở ra không gian cho chuỗi trung nguồn.
GAS – doanh nghiệp nắm phần lớn hạ tầng khí quốc gia – được kỳ vọng gia tăng cơ hội kinh doanh khi các dự án thượng nguồn chuyển thành sản lượng. PVT cũng có thể hưởng lợi khi sản lượng dầu khí tăng, dù động lực chính vẫn từ quy mô đội tàu và giá cước. Nhóm dịch vụ chuyên biệt như PVB, PVC, PXS có thêm cơ hội nhưng phụ thuộc nhiều vào từng dự án và khả năng thắng thầu.
Ngược lại, tác động với BSR, PLX, OIL khá hạn chế, khi kết quả kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào giá dầu, crack spread và công suất vận hành. POW chỉ hưởng lợi ở mức độ nhất định nếu nguồn khí nội địa ổn định hơn.
Nhìn chung, Luật Dầu khí sửa đổi tác động tích cực nhưng không đồng đều lên chuỗi giá trị. Nhóm thượng nguồn như PVS, PVD sẽ cảm nhận tác động sớm nhất, trong khi trung và hạ nguồn cần chờ nguồn dầu khí mới hình thành để chuyển hóa thành tăng trưởng.