Làn sóng tăng vốn điều lệ trong ngành ngân hàng Việt Nam diễn ra sôi động trong năm 2026, khi các nhà băng nỗ lực nâng cao năng lực tài chính và đáp ứng các yêu cầu khắt khe về an toàn vốn. Theo tính toán từ các tổ chức tài chính, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam hiện ở mức 145-150%, trong khi dư nợ trái phiếu doanh nghiệp trên GDP chỉ chiếm khoảng 11% vào quý I/2026 (theo VIS Rating). Sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng khiến việc củng cố vốn trở nên cấp thiết, đặc biệt khi Việt Nam ước tính cần khoảng 245 tỷ USD cho đầu tư hạ tầng giai đoạn 2025-2030.
Các ngân hàng đẩy mạnh bổ sung vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Tính đến cuối tháng 9/2026, trái phiếu ngân hàng chiếm khoảng 46% tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành. Tuy nhiên, TS. Phạm Ngọc Hương Quỳnh (Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội) nhấn mạnh: “Vốn điều lệ tăng chưa chắc đồng nghĩa với việc ngân hàng nhận thêm tiền mới”. Việc tăng vốn qua cổ tức hoặc cổ phiếu thưởng chỉ thay đổi cơ cấu vốn, không tạo nguồn lực mới, trong khi phát hành cho cổ đông hiện hữu có thể mang lại dòng tiền nhưng kèm theo rủi ro pha loãng.
Chất lượng vốn cần được đánh giá qua khả năng hấp thụ tổn thất. Theo ông Phan Duy Hưng (VIS Rating), đến cuối tháng 9/2026, trái phiếu thứ cấp ngân hàng đã vượt 400.000 tỷ đồng, chiếm gần 60% tổng giá trị trái phiếu ngân hàng. Trái phiếu cấp 2 không làm tăng vốn lõi CET1, trong khi các công cụ AT1 có điều khoản riêng. Vì vậy, đánh giá ngân hàng cần xem xét cơ cấu vốn, chất lượng tài sản, dự phòng và khả năng chịu đựng rủi ro, không chỉ dựa vào vốn điều lệ.
Một điểm yếu hiện nay là khoảng trống xếp hạng tín nhiệm. Cuối năm 2025, chỉ 2 trong 28 ngân hàng có trái phiếu được xếp hạng (khoảng 7%), trong khi tỷ lệ này tại Thái Lan là 60%, Malaysia, Hàn Quốc, Trung Quốc trên 75%. Ông Hưng nhận định: “Việc mở rộng xếp hạng tín nhiệm sẽ giúp nhà đầu tư so sánh rủi ro tốt hơn, nhưng không tự động bảo đảm định giá đúng”. Nghiên cứu của VIS Rating trên 284 trái phiếu ngân hàng không có tài sản bảo đảm cho thấy chênh lệch lợi suất chưa phản ánh nhất quán chất lượng tín nhiệm.
Theo TS. Phạm Ngọc Hương Quỳnh, bài toán tăng vốn phức tạp hơn với ngân hàng có vốn Nhà nước do thiếu đồng bộ giữa tăng trưởng, cổ tức và quy trình phê duyệt. Bà khuyến nghị: “Cần phê duyệt kế hoạch vốn theo nhiều năm, xác định rõ phần tích lũy, huy động bên ngoài và phần Nhà nước tham gia”. Tuy nhiên, việc giữ lại lợi nhuận phải gắn với mục tiêu an toàn, hiệu quả và giám sát rõ ràng.
Đánh giá một đợt tăng vốn không chỉ qua số tiền huy động hay CAR. CAR có thể cải thiện nhưng vẫn cần xem xét chất lượng tài sản và dự phòng. ROE phải đối chiếu với ROA, chi phí tín dụng, nợ xấu để nhận diện chất lượng lợi nhuận. Bà Quỳnh cảnh báo: “Tiền huy động hôm nay có thể tạo lợi nhuận kế toán sớm, nhưng để lại tổn thất vài năm sau”. Ngân hàng cần chuyển sang quản trị vốn xuyên chu kỳ, gắn với kiểm tra sức chịu đựng rủi ro như nợ xấu, lãi suất, tỷ giá và thực hiện sớm Thông tư 14/2025/TT-NHNN.
Điều quan trọng nhất là nguồn vốn bổ sung có giúp nâng cao năng lực chống chịu và tăng trưởng bền vững hay không. Vốn chỉ thực sự trở thành sức mạnh khi giúp ngân hàng đứng vững trước rủi ro, thay vì chỉ mở rộng quy mô. Ngân hàng cần chứng minh nguồn lực mới được chuyển hóa thành năng lực tài chính tốt hơn, lợi nhuận tương xứng với rủi ro và khả năng chống chịu bền vững.