VN-Index kết thúc nửa đầu năm 2026 với mức tăng khoảng 4%, tuy nhiên hiệu suất bình quân của các quỹ cổ phiếu lại âm 2,7% theo thống kê của Fiingroup trên 88 quỹ được khảo sát.
Trong số 88 quỹ được khảo sát, có 64% ghi nhận lỗ (56 quỹ). Cụ thể, 37 trên 53 quỹ mở cổ phiếu giảm giá trị ròng; 16 trên 27 quỹ ETF có hiệu suất âm; và 3 trên 6 quỹ đóng cũng không bảo toàn được danh mục.
Những con số này cho thấy việc VN-Index tăng điểm không đồng nghĩa với phần lớn cổ phiếu, nhà đầu tư hay các tổ chức quản lý tài sản đều có lãi.
Nguyên nhân chính của nghịch lý này nằm ở cấu trúc tăng điểm thiếu cân bằng của thị trường. Nửa đầu năm 2026, mức tăng của VN-Index tập trung chủ yếu vào một nhóm hẹp cổ phiếu vốn hóa lớn, đặc biệt là VIC và VHM. Nếu loại trừ đóng góp của hai mã này, chỉ số thị trường trên thực tế giảm khoảng 2%.
Độ rộng thị trường cũng cho thấy bức tranh kém tích cực hơn nhiều so với diễn biến của chỉ số. Số cổ phiếu giảm giá vượt xa số mã tăng, đồng nghĩa phần lớn nhà đầu tư không thực sự được hưởng lợi từ mức tăng trên VN-Index.
Đây là thách thức đặc biệt lớn đối với các quỹ đầu tư. Khác với nhà đầu tư cá nhân có thể tập trung phần lớn tài sản vào một vài cổ phiếu, quỹ thường phải tuân thủ các giới hạn về tỷ trọng, đa dạng hóa danh mục, thanh khoản và quản trị rủi ro.
Một quỹ không nắm giữ VIC hoặc VHM, hoặc chỉ phân bổ tỷ trọng thấp hơn mức đóng góp của hai cổ phiếu này trong chỉ số, rất dễ bị tụt lại phía sau VN-Index. Ngay cả khi danh mục của quỹ được phân bổ rộng và lựa chọn dựa trên nền tảng cơ bản, kết quả vẫn có thể âm nếu phần lớn cổ phiếu trên thị trường giảm giá.
Hiệu suất kém không phải do các quỹ giữ quá nhiều tiền mặt. Tỷ trọng cổ phiếu bình quân của nhiều quỹ chủ động vẫn ở mức trên 90%, cho thấy các nhà quản lý tài sản không đứng ngoài thị trường. Vấn đề cốt lõi nằm ở việc danh mục của các quỹ này không đồng pha với nhóm rất ít cổ phiếu kéo chỉ số đi lên.
Trong nhóm quỹ cổ phiếu chủ động, VNDAF ghi nhận mức tăng khoảng 6,3% và là một trong số rất ít quỹ vượt VN-Index. Ngược lại, nhiều quỹ ngoại lớn đầu tư vào Việt Nam có kết quả kém tích cực: VEIL và VOF giảm trên 3%, trong khi VEF và PYN Elite giảm hơn 6%.
Một số ETF và quỹ chủ động vẫn đạt lợi nhuận nhờ nắm giữ tỷ trọng cao tại các cổ phiếu dẫn dắt. Tuy nhiên, đây là nhóm thiểu số trong bức tranh chung của ngành quỹ.
Diễn biến này cũng đặt ra câu hỏi về khả năng phản ánh thị trường của VN-Index. Khi chỉ số bị chi phối mạnh bởi một vài doanh nghiệp vốn hóa lớn, mức tăng của VN-Index có thể tạo cảm giác thị trường đang tích cực, trong khi trải nghiệm thực tế của phần lớn nhà đầu tư lại hoàn toàn khác.
Cuối tháng 6/2026, tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam đạt khoảng 263.700 tỷ đồng, giảm gần 20.000 tỷ đồng, tương đương 7% so với cuối năm 2025. Nếu so với vùng đỉnh thiết lập vào cuối tháng 8/2025, quy mô tài sản toàn ngành đã thu hẹp hơn 37.000 tỷ đồng.
Lũy kế sáu tháng đầu năm, các quỹ bị rút ròng gần 20.200 tỷ đồng, tăng gần 47% so với cùng kỳ và tương đương gần 60% tổng giá trị rút ròng của cả năm 2025. Trong đó, các quỹ cổ phiếu chịu áp lực lớn nhất với khoảng 13.300 tỷ đồng bị rút ra. Nhóm ETF đầu tư vào cổ phiếu Việt Nam ghi nhận dòng vốn âm gần 5.000 tỷ đồng.
Áp lực rút vốn có dấu hiệu giảm trong quý II, khi giá trị rút ròng còn khoảng 6.000 tỷ đồng, nhưng đây vẫn là quý thứ sáu liên tiếp ngành quỹ ghi nhận dòng tiền âm. Trong khi quỹ cổ phiếu gặp khó, nhóm quỹ trái phiếu vẫn duy trì mức sinh lời bình quân khoảng 3,1%. Tuy vậy, các quỹ trái phiếu cũng bị rút ròng khoảng 7.300 tỷ đồng và có tới 20 trong tổng số 28 quỹ ghi nhận dòng tiền âm.
Ở bối cảnh này, một số công ty quản lý quỹ vẫn ghi nhận kết quả tích cực. Dragon Capital Việt Nam ghi nhận doanh thu nghiệp vụ khoảng 553 tỷ đồng trong nửa đầu năm, lợi nhuận sau thuế khoảng 172 tỷ đồng, tăng gấp hơn ba lần so với cùng kỳ. Mô hình thu phí dựa trên quy mô tài sản quản lý cùng nguồn thu từ tư vấn đầu tư được cho là yếu tố đóng góp vào hiệu quả của đơn vị này.
Nhìn chung, nhà đầu tư vẫn có thể chịu lỗ ngắn hạn, trong khi một số doanh nghiệp quản lý quỹ vẫn duy trì đà tăng nhờ quản trị danh mục và quy mô tài sản