Phó Chủ tịch UBCKNN cho biết có 5 nhóm vướng mắc khiến doanh nghiệp FDI chưa thể lên sàn. Mặc dù Luật Chứng khoán không phân biệt giữa doanh nghiệp nội và FDI, nhiều cam kết đầu tư và hợp đồng từ thời cấp phép vẫn tạo ra rào cản đáng kể. Sự chậm trễ ảnh hưởng đến quy mô và tính thanh khoản của thị trường vốn Việt Nam.
Ông Hoàng Văn Thu, Phó Chủ tịch UBCKNN, cho biết từ năm 2014 đến nay đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc cho phép doanh nghiệp FDI niêm yết. Đến năm 2014, khi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư được sửa đổi, cách tiếp cận với vốn nước ngoài đã có sự thay đổi đáng kể. Giai đoạn 2014-2020, Bộ Tài chính tiếp tục nghiên cứu cơ chế đưa doanh nghiệp FDI tham gia thị trường và đến năm 2025 báo cáo Thủ tướng Chính phủ để nhận sự đồng thuận chủ trương.
Theo lãnh đạo UBCKNN, các quy định hiện hành không phân biệt giữa doanh nghiệp nội và FDI. Tuy nhiên, không có rào cản từ Luật Chứng khoán không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp FDI đều có thể niêm yết ngay lập tức. Việc tháo gỡ các rào cản đòi hỏi xử lý hoặc gỡ bỏ các điều kiện đầu tư và cam kết từ thời kỳ dự án cấp phép.
“Đặc biệt nhất là các ràng buộc về việc chuyển nhượng vốn của nhà đầu tư cho các nhà đầu tư khác,” ông Thu nhấn mạnh, và lưu ý các doanh nghiệp cùng đơn vị tư vấn cho khối FDI cần đặc biệt chú ý 5 nhóm trường hợp trên.
Việc tháo gỡ các rào cản được xem là bước đi quan trọng để Việt Nam mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng thị trường vốn. Theo ông Thu, nhu cầu vốn của nền kinh tế giai đoạn 2026-2030 ước đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, cao gấp khoảng hai lần so với giai đoạn 2021-2025. Trong đó, thị trường vốn được kỳ vọng huy động khoảng 5,4 triệu tỷ đồng.
Theo định hướng phát triển đến năm 2030, phần lớn nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế sẽ được đáp ứng thông qua thị trường vốn. Khu vực doanh nghiệp FDI được kỳ vọng đóng vai trò quan trọng, mang theo dòng vốn và nguồn hàng chất lượng, góp phần nâng cao quy mô và tính minh bạch của thị trường chứng khoán Việt Nam.