Lợi suất trái phiếu chính phủ tăng lên khi cầu trên thị trường sơ cấp suy yếu, phản ánh áp lực thanh khoản và kỳ vọng về lãi suất. Theo SHS Research trong báo cáo thị trường tiền tệ tháng 6/2026, đường cong lợi suất đã dịch lên ở hầu hết các kỳ hạn so với đầu tháng 4. Tính đến ngày 28/5/2026, lợi suất kỳ hạn 30 năm tiến sát 4,6%/năm, trong khi lợi suất kỳ hạn 10 năm quanh 4,2%/năm và sau đó tiếp tục tăng lên khoảng 4,52%/năm.
Diễn biến này cho thấy thị trường đòi hỏi mức lợi suất cao hơn để nắm giữ trái phiếu Chính phủ, đồng thời phản ánh kỳ vọng mới về lãi suất, nhu cầu huy động vốn và áp lực thanh khoản của hệ thống tài chính. Theo SHS Research, một trong những nguyên nhân chính là lực cầu trên thị trường sơ cấp suy yếu, đặc biệt từ nhóm ngân hàng thương mại.
Ngoài SHS, dữ liệu từ MBS cho thấy xu hướng tương tự. Theo báo cáo thị trường trái phiếu tháng 5/2026, Kho bạc Nhà nước gọi thầu 68.500 tỷ đồng nhưng chỉ huy động được 33.600 tỷ đồng, giảm 26% so với tháng trước.
Ở thị trường thứ cấp, MBS ghi nhận lợi suất trúng thầu các kỳ hạn 5-30 năm tăng từ 2-14 điểm cơ bản trong tháng 5; riêng lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm cuối tháng đạt 4,32%/năm, tăng 9 điểm cơ bản so với cuối tháng trước.
Định giá chi phí vốn đang được tái định giá mạnh mẽ. MBS cho rằng lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm tăng sẽ tiếp tục gây áp lực lên biên lãi ròng của các ngân hàng, khi huy động vốn vẫn ở mức cao và lãi suất liên ngân hàng bình quân 5 tháng đầu năm ở mức 5,8%, trong khi lãi suất trên kênh nghiệp vụ thị trường mở vẫn duy trì ở khoảng 4,5%.
Về mặt thanh khoản, VDSC nhận định các công cụ như lãi suất trên kênh nghiệp vụ thị trường mở hay hoán đổi ngoại tệ chỉ có tác dụng hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn. Quy mô lãi suất trên kênh MMT hiện chỉ còn khoảng 330.000 tỷ đồng, thấp hơn so với đỉnh trước đây khoảng 450.000 tỷ đồng. Nhiều ngân hàng cũng giảm nắm giữ trái phiếu khiến tài sản có thể cầm cố để tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước ngày càng thu hẹp.
Các công ty chứng khoán cho rằng việc tăng lợi suất không phản ánh rủi ro hệ thống mà cho thấy nền kinh tế đang ở giai đoạn tái định giá chi phí vốn. Trong bối cảnh nhu cầu vốn vẫn cao, mặt bằng lợi suất được kỳ vọng sẽ duy trì ở mức cao và trở thành tham chiếu cho các mức lãi suất trên thị trường trong thời gian tới.
Tóm lại, bài học từ các đợt phát hành và cơ cấu nhà đầu tư cho thấy chi phí vốn đang được tái định giá ở mức cao khi thanh khoản còn thắt và huy động vốn chưa theo kịp tăng trưởng tín dụng. Dự báo, mặt bằng lợi suất có thể duy trì ở mức cao trong một thời gian tới và tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong quyết định lãi suất và chi phí vốn của các tổ chức tài chính.
Ngọc Ngân