Theo báo cáo của Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm đầu tư Việt Nam (VIS Rating) công bố, tỷ lệ ngân hàng có trái phiếu được xếp hạng tín nhiệm trong nước tại Việt Nam chỉ khoảng 7%. Con số này thấp hơn nhiều so với mức khoảng 60% tại Thái Lan và trên 75% tại Malaysia, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Điều này đáng chú ý khi ngân hàng là nhóm tổ chức phát hành lớn nhất trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam. Đến cuối tháng 9/2026, trái phiếu ngân hàng chiếm khoảng 46% tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành.
Theo VIS Rating, quy định hiện hành chưa yêu cầu xếp hạng tín nhiệm đối với phần lớn trái phiếu ngân hàng. Trái phiếu chào bán ra công chúng được miễn yêu cầu xếp hạng bắt buộc, và trái phiếu phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư tổ chức cũng không thuộc diện bắt buộc. Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn có thể chủ động thực hiện xếp hạng để tăng tính minh bạch.
Kinh nghiệm khu vực cho thấy xếp hạng tín nhiệm phục vụ việc tuân thủ quy định và cả quá trình lựa chọn tổ chức phát hành, xác định hạn mức đầu tư và giám sát rủi ro. Malaysia vẫn duy trì sử dụng rộng rãi xếp hạng sau khi bãi bỏ yêu cầu bắt buộc vào năm 2017.
Tại Việt Nam, quy mô tài sản ngân hàng cuối năm 2025 tương đương khoảng 185% GDP, trong khi dư nợ trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm 11% GDP vào quý I/2026. Điều này cho thấy nền kinh tế phụ thuộc lớn vào vốn tín dụng, trong khi kênh trái phiếu chưa phát triển tương xứng.
Trong bối cảnh cần khoảng 245 tỷ USD đầu tư cơ sở hạ tầng giai đoạn 2025–2030, việc mở rộng sử dụng xếp hạng tín nhiệm độc lập phù hợp với Quyết định 1413/QĐ-TTg sẽ góp phần cải thiện khả năng so sánh rủi ro.
Đến cuối tháng 9/2026, giá trị trái phiếu thứ cấp ngân hàng vượt 400.000 tỷ đồng, chiếm gần 60% tổng trái phiếu ngân hàng đang lưu hành. Trái phiếu thứ cấp được thanh toán sau các chủ nợ ưu tiên, nên nhà đầu tư có thể thu hồi vốn thấp hơn khi ngân hàng gặp khó khăn.
Theo Thông tư 14/2025/TT-NHNN, trái phiếu cấp 2 (Tier 2) có thể bị hoãn trả lãi nếu thanh toán khiến ngân hàng phát sinh lỗ, và lãi chuyển sang kỳ sau. Công cụ AT1 không có ngày đáo hạn, ngân hàng có thể hủy trả lãi, và nếu tỷ lệ CET1 dưới 5,125%, công cụ có thể chuyển đổi thành cổ phần hoặc ghi giảm giá trị.
Nhà đầu tư cá nhân nắm giữ khoảng 30-45% tại một số đợt chào bán trái phiếu Tier 2 ra công chúng của vài ngân hàng quốc doanh trong sáu tháng đầu năm 2026. Do đó, cần đánh giá kỹ cấu trúc sản phẩm trước khi đầu tư.
VIS Rating phân tích 284 trái phiếu ngân hàng ưu tiên không có bảo đảm, kỳ hạn ba năm, phát hành từ 2023 đến giữa năm 2026. Kết quả cho thấy chênh lệch lợi suất chưa phản ánh nhất quán sự khác biệt về chất lượng tín nhiệm giữa các tổ chức phát hành.
Một số ngân hàng được đánh giá nội bộ ở nhóm “AA” có chênh lệch lợi suất khoảng 280-320 điểm cơ bản, trong khi một số nhóm “A” có chênh lệch không quá 300 điểm cơ bản. Điều này cho thấy lợi suất cao hơn chưa chắc đã phản ánh đủ phần bù rủi ro tín dụng, ngoài ra còn chịu tác động từ cung cầu và mặt bằng lãi suất.
Khoảng trống xếp hạng tồn tại trên toàn thị trường: chỉ khoảng 12% giá trị trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành tại Việt Nam được xếp hạng, thấp hơn mức 96% tại Thái Lan, 64% tại Malaysia và 55% tại Trung Quốc. Mở rộng xếp hạng cả tổ chức phát hành và công cụ nợ sẽ giúp nhà đầu tư so sánh rủi ro tốt hơn.
Xếp hạng tín nhiệm không bảo đảm thanh toán đầy đủ, đúng hạn và không thay thế thẩm định độc lập. Với thị trường trái phiếu ngân hàng, yêu cầu đặt ra là tăng số lượng trái phiếu được xếp hạng và cải thiện khả năng định giá, phân biệt rủi ro giữa các công cụ nợ.