Thống kê của Chứng khoán MB (MBS) cho thấy ngân hàng là nhóm ngành có quy mô phát hành trái phiếu lớn nhất trong 8 tháng đầu năm 2026, đạt hơn 192.000 tỷ đồng, chiếm 50% tổng giá trị phát hành. Lãi suất bình quân gia quyền ở mức 8,5%/năm, kỳ hạn bình quân đạt 5,2 năm.
Theo báo cáo “Tổng quan thị trường trái phiếu doanh nghiệp quý III/2026” của VIS Rating, giá trị phát hành mới trong quý đạt 172.000 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trái phiếu ngân hàng chiếm 66%, trái phiếu bất động sản chiếm 26%.
HNX công bố, trong tháng 9/2026 có 12 ngân hàng phát hành trái phiếu với tổng giá trị 35.160 tỷ đồng. Phần lớn trái phiếu có kỳ hạn từ 3 đến 10 năm. Các ngân hàng phát hành lớn nhất bao gồm:
Lãi suất trái phiếu ngân hàng tăng mạnh từ mức 8%/năm cuối tháng 6 lên 9%/năm trong tháng 7, chạm 10%/năm ở tháng 8 và đạt 10,5%/năm trong tháng 9. Với các ngân hàng cổ phần tư nhân, lãi suất kỳ hạn 3-6 năm dao động quanh 9% - 9,1%/năm, trong khi nhóm ngân hàng có vốn nhà nước ở mức 7,87% - 8,2%/năm.
Các lô trái phiếu riêng lẻ của PVcomBank có lãi suất cao nhất từ 9,6% - 10,5%/năm. TPBank phát hành với lãi suất 9,1% - 9,7%/năm, LPBank ở mức 9,68%/năm. Nam A Bank cũng huy động với lãi suất lên tới 9,6%/năm, trong khi Sacombank phát hành kỳ hạn dài với lãi suất 9,5% - 9,6%/năm. MB và HDBank lần lượt có lãi suất trên 9%/năm và 9,2%/năm.
Mức lãi suất này cao hơn đáng kể so với lãi suất tiền gửi thông thường tại cùng ngân hàng. Điều này phản ánh nhu cầu bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn ngày càng cấp thiết, cũng như áp lực cạnh tranh nguồn vốn lan từ thị trường tiền gửi sang trái phiếu.
Nguyên nhân chính là sự mất cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn. Khi tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi, các ngân hàng phải tìm đến trái phiếu để ổn định nguồn vốn và đáp ứng các tỷ lệ an toàn.
TS Phạm Ngọc Hương Quỳnh (Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội) nhận định lãi suất cao hơn là sự bù đắp cho thời gian nắm giữ dài và tính thanh khoản thấp hơn của trái phiếu. Trong khi đó, TS Châu Đình Linh (Đại học Ngân hàng TP.HCM) cho biết nhiều trái phiếu kỳ hạn dài có thể được tính vào vốn cấp 2, giúp ngân hàng củng cố hệ số an toàn vốn.
Việc phát hành trái phiếu giúp các tổ chức tín dụng kéo dài cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn, giảm phụ thuộc vào vốn ngắn hạn và đa dạng hóa kênh huy động. Tuy nhiên, lãi suất trái phiếu cao tiệm cận lãi suất cho vay, làm thu hẹp biên lợi nhuận của ngân hàng.
Theo Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA), từ nay đến hết năm 2026 sẽ có khoảng 106.155 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn, trong đó nhóm ngân hàng chiếm 20.756 tỷ đồng (tương đương 19,4%). Các ngân hàng phải cân đối nguồn tiền để thanh toán các lô trái phiếu đến hạn, đồng thời tiếp tục huy động vốn mới để phục vụ kinh doanh.
FiinRatings dự báo mặt bằng lãi suất trái phiếu ngân hàng chưa hạ nhiệt, khi nhiều ngân hàng đang lên kế hoạch chào bán quy mô lớn trong các tháng cuối năm. Bối cảnh này cho thấy cuộc đua phát hành trái phiếu sẽ còn diễn ra sôi động, tạo áp lực lên chi phí vốn của toàn hệ thống ngân hàng.