Theo FiinGroup về thị trường trái phiếu doanh nghiệp, tính đến 07/04 tổng giá trị đang lưu hành đạt 1,39 triệu tỷ đồng, tăng nhẹ 0,1% so với cuối tháng 3/2026 và 0,03% so với cuối năm 2025. Thị trường vẫn ở mức cao nhưng đang có chuyển biến tích cực và sự phân hóa rõ giữa các nhóm phát hành.
Tháng 3/2026, tổng giá trị phát hành TPDN đạt 30,4 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 9 lần so với tháng trước và tăng 76,6% so với cùng kỳ năm trước; sự tăng trưởng chủ yếu ở nhóm ngân hàng và phi ngân hàng. Lũy kế quý I/2026, tổng giá trị phát hành đạt 38,9 nghìn tỷ đồng, tăng 55% so với năm trước nhưng giảm 82,2% so với quý liền trước. Kênh công chúng chiếm 34,3% tương đương 13,3 nghìn tỷ đồng, giảm 42% so với năm trước, trong khi phát hành riêng lẻ đạt 25,6 nghìn tỷ đồng, tăng mạnh so với mức khiêm tốn ở cùng kỳ năm trước.
Xét theo ngành trong quý I, ngân hàng huy động khoảng 10,2 nghìn tỷ đồng, giảm 47% so với năm trước, chủ yếu từ HDB, BID và CTG. Ngược lại, nhóm phi ngân hàng phát hành tăng mạnh, lên gần 28,7 nghìn tỷ đồng. Phát hành riêng lẻ vẫn chiếm đại đa số, chủ yếu dành cho nhà đầu tư tổ chức và khó tiếp cận đối với nhà đầu tư đại chúng.
Ông Nguyễn Hoàng Dương, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC), nhận định thị trường TPDN còn nhiều khó khăn; rủi ro tăng do vi phạm quy định pháp luật từ một số tổ chức phát hành và môi giới, công bố thông tin thiếu minh bạch, huy động vốn quá mức và sử dụng sai mục đích. SSC đang triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao tính minh bạch và đẩy mạnh thanh tra, hậu kiểm để hỗ trợ đàm phán và cơ cấu lại trái phiếu.
Theo ông Lê Hồng Khang, thị trường còn tồn tại các hạn chế mang tính cấu trúc, như: 9% tỷ lệ phát hành từ doanh nghiệp sản xuất và hạ tầng, trong khi nhiều phát hành đến từ bất động sản và ngân hàng; thanh khoản tập trung ở kỳ hạn dưới 5 năm, và 1-3 năm là nhu cầu cao nhất; phát hành riêng lẻ vẫn chiếm ưu thế và khó tiếp cận với nhà đầu tư đại chúng.
Ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia kinh tế trưởng của ADB, cho rằng Việt Nam có nhu cầu rất lớn cho phát triển hạ tầng và đầu tư công trung bình khoảng 8-10% GDP/năm, thậm chí tăng lên 10-20 tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên, thách thức hiện nay là nguồn vốn đầu tư công còn chủ yếu từ ngân sách và chưa có đủ nguồn vốn từ các công cụ tài chính trên thị trường cho dự án hạ tầng. Tài chính dựa vào dòng tiền từ dự án và sự tham gia của khu vực tư nhân vẫn còn hạn chế.
Đại diện ADB cho rằng phần lớn dự án hạ tầng gặp khó khăn ở phía cung (khâu vận hành và tiến độ vay vốn) và phía cầu (độ sâu thị trường và nhận thức nhà đầu tư). Trong bối cảnh này, mô hình Quỹ đầu tư hạ tầng được xem là câu trả lời để huy động vốn đa dạng và phân bổ rủi ro, đồng thời biến dòng tiền dự án thành sản phẩm tài chính có xếp hạng cao. Ông nêu ví dụ về Ấn Độ với khoảng 12 quỹ và tổng giá trị > 2 tỷ USD, cùng với mô hình chứng khoán hóa dòng tiền từ các dự án hạ tầng do Chính phủ Singapore triển khai.
Hai mô hình được đề xuất là (1) Quỹ tín thác đầu tư hạ tầng và (2) chứng khoán hóa các dòng tiền từ dự án vận hành tốt. Cách làm của mô hình này là tập hợp các dự án có dòng tiền ổn định, phát hành trái phiếu hoặc các công cụ nợ và sau đó quản lý thông qua một đơn vị quản lý quỹ chuyên nghiệp, nhằm đảm bảo thanh khoản và chia sẻ lợi nhuận với nhà đầu tư.
Để triển khai tại Việt Nam, các cơ quan quản lý cần thiết lập ngay khung pháp lý cho nhà đầu tư và điều kiện phát hành trái phiếu để mua lại các dự án hạ tầng, cùng với ưu đãi về thuế và cơ chế thị trường sơ cấp/ thứ cấp để tăng thanh khoản. Việc huy động vốn từ nhiều nguồn và từ các nhóm nhà đầu tư khác nhau được kỳ vọng sẽ hạ chi phí vốn và thúc đẩy phát triển các dự án xanh, bền vững, đồng thời mở rộng quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp cho hạ tầng.