Với báo cáo Tâm điểm ngành Chứng khoán Việt Nam 2026 của FiинRatings, cơ cấu huy động của các công ty chứng khoán đang dịch chuyển rõ nét về phía vốn từ ngân hàng. Tính đến cuối năm 2025, vay ngân hàng chiếm khoảng 88% tổng nguồn vốn huy động của các công ty chứng khoán, tăng so với 68% năm 2019. Trong khi đó, tỷ trọng huy động qua phát hành trái phiếu giảm từ 15% xuống khoảng 5%; các nguồn nợ khác cũng thu hẹp từ 17% xuống 7%. Diễn biến này cho thấy ngân hàng đã trở thành mạch vốn chính cho bảng cân đối của ngành.
Nguồn vốn tăng nhanh chủ yếu từ hai hoạt động thâm dụng vốn là cho vay ký quỹ và đầu tư. Dư nợ cho vay ký quỹ toàn ngành đạt 412.600 tỷ đồng vào cuối năm 2025, tương đương quy mô tín dụng của một ngân hàng thuộc nhóm 10 ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất. Dư nợ này tiếp tục tăng trong quý I/2026, củng cố vai trò của margin trong cơ cấu tài sản và nguồn thu của ngành.
Cuối năm 2025, TCBS dẫn đầu với dư nợ margin 43.163 tỷ đồng, tương đương 102% vốn chủ sở hữu. SSI đứng thứ hai với 38.616 tỷ đồng, tỷ lệ margin trên vốn chủ sở hữu đạt 127%. Tại VPBankS, dư nợ đạt 33.894 tỷ đồng, tương đương 167% vốn chủ sở hữu.
Đến 30/6/2026, dư nợ margin của TCBS lên tới 51.522 tỷ đồng, tương đương 112% vốn chủ sở hữu. Tương tự, con số này tại SSI là 40.473 tỷ đồng và VPBankS là 38.177 tỷ đồng.
Nhóm công ty chứng khoán được ngân hàng nội địa hậu thuẫn đã nâng thị phần margin từ khoảng 24% năm 2019 lên gần 37% trong giai đoạn 2025 - quý I/2026. Riêng năm 2025, nhóm này chiếm khoảng 40% tổng tài sản và 40% vốn chủ sở hữu toàn ngành. Những lợi thế này bắt nguồn từ mạng lưới khách hàng, hệ sinh thái quản lý tài sản và khả năng tiếp cận hạn mức tín dụng lớn, đồng thời cho thấy sự bất đối xứng giữa các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn và các đối thủ nhỏ hơn.
Rủi ro chênh lệch kỳ hạn và chi phí vốn gia tăng khi nguồn vốn ngắn hạn kết hợp với margin và trái phiếu có thời gian thu hồi dài hơn. Năm 2025, chi phí vốn bình quân của nhóm được ngân hàng hậu thuẫn tăng từ 4,6% lên 5,4%; nhóm có vốn ngoại thiểu số tăng từ 4,1% lên 5,1%. Trong khi đó, lãi suất danh mục cho vay của phần lớn doanh nghiệp lại giảm. Việc một phần chi phí vốn được chuyển sang khách hàng giúp bảo vệ biên lợi nhuận nhưng có thể làm giảm nhu cầu đòn bẩy nếu lãi suất duy trì ở mức cao.
FiinRatings cho rằng sự chênh lệch chi phí huy động giữa các nhóm đã thu hẹp nhờ sự mở rộng của các kênh vay ngân hàng, phát hành trái phiếu và giao dịch mua bán lại giấy tờ có giá. Vì vậy, nguồn vốn giá rẻ không còn là lợi thế tuyệt đối. Khả năng sinh lời sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào lãi suất cho vay, cơ cấu khách hàng, chiến lược định giá và khẩu vị rủi ro.
Sức ép còn đến từ danh mục trái phiếu. Tỷ lệ trái phiếu trên vốn chủ sở hữu toàn ngành tăng từ 14% năm 2020 lên 32,6% năm 2025. Khi margin và trái phiếu cùng mở rộng bằng nguồn vay ngắn hạn, công ty chứng khoán có thể đồng thời chịu tác động từ chi phí tái cấp vốn, chất lượng tài sản và biến động thị trường. Trong bối cảnh đó, tăng vốn chủ sở hữu tiếp tục là giải pháp quan trọng, nhưng chưa đủ nếu không đi cùng cải thiện cơ cấu kỳ hạn. Việc kéo dài thời hạn vay, đa dạng hóa nguồn huy động và duy trì tài sản thanh khoản sẽ quyết định khả năng chống chịu. Cuộc đua ngành chứng khoán vì thế đang chuyển từ mở rộng thị phần sang bài toán quản trị vốn và kiểm soát rủi ro bảng cân đối.