Tại một hội thảo do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức vào sáng 23/7, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV, nhấn mạnh rằng nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào vốn từ tín dụng và điều này tiềm ẩn rủi ro khi tăng trưởng ở mức cao. Ông cho rằng tín hiệu rủi ro sẽ giảm nếu thị trường vốn được tăng cường đóng góp từ cổ phiếu, trái phiếu và quỹ đầu tư lên khoảng 25-27% tổng nguồn vốn cung ứng, thay vì phụ thuộc quá lớn vào tín dụng.
Theo ước tính của ông và nhóm Viện NCKT BIDV, mục tiêu tăng trưởng vốn từ thị trường vốn đến năm 2030 cần đạt mức 13%, sau đó từ 2031-2045 khoảng 10%. Ông chỉ ra thực tế nền kinh tế vẫn duy trì sự phụ thuộc vào vốn tín dụng, và với tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 10% và tín dụng quanh 15-16%, điểm đến 180% của tỷ lệ tín dụng trên GDP năm 2030 là một thách thức lớn.
Trong khi đó, các kênh vốn khác đóng góp ở mức khiêm tốn. Tín dụng hiện chiếm khoảng 50-51% tổng vốn cung ứng, trong khi thị trường chứng khoán đóng góp khoảng 6,4% trong 6 tháng đầu năm, và thị trường trái phiếu doanh nghiệp khoảng 7%. Ngược lại, vốn đầu tư công chiếm 12-15%, FDI khoảng 12%, còn khu vực tư nhân với hàng loạt doanh nghiệp mới thành lập lại đóng góp khoảng 10% thông qua vốn thực góp.
“Nếu cứ duy trì tốc độ tăng trưởng như hiện nay, đến năm 2030 tỷ lệ tín dụng/GDP có thể lên tới 180%, trong khi mức hiện tại đã ở mức rủi ro với trên 143%,” ông Lực nhấn mạnh. Trong 15 năm qua, tổng tài sản của hệ thống ngân hàng tăng khoảng 15% mỗi năm, còn thị trường chứng khoán và trái phiếu vẫn còn dư địa để phát triển.
Ông cho biết, để đảm bảo cân bằng và bền vững, cần một sự tái cấu trúc hệ thống tài chính và các kênh dẫn vốn theo hướng đa dạng hóa. “Thị trường vốn phải phát triển nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng,” ông nhấn mạnh.
Ông Lực cũng lưu ý về sự khác biệt giữa tiết kiệm và đầu tư tại Việt Nam. Dẫn số liệu từ Viện NCKT BIDV, hiện tỷ lệ đầu tư khoảng 31% trên GDP, trong khi tiết kiệm của dân cư ở mức khoảng 35% GDP. Theo ông, Việt Nam vẫn còn dư khoảng 5% GDP tiền tiết kiệm trong dân chưa huy động được, và cần thúc đẩy huy động vốn tiết kiệm từ dân cư để đầu tư và phát triển kinh doanh.
“Dư nợ cho vay ký quỹ tại các công ty chứng khoán đã tăng từ khoảng 125.000 tỷ đồng cuối quý I/2023 lên 445.000 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tương đương mức tăng trên 3,5 lần,” ông Lực cảnh báo. Ông cho rằng rủi ro đòn bẩy tài chính sẽ tăng khi thị trường đảo chiều và cần cải cách khung pháp lý để quản lý các mô hình tài chính mới.
Hệ thống tài chính cũng đối mặt với các thách thức an ninh mạng, an toàn thông tin và tội phạm tài chính gia tăng. Ông đề nghị ban hành một chương trình tổng thể về cải cách và phát triển thị trường tài chính, đồng thời đa dạng hóa các định chế như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư dài hạn và quỹ đầu tư mạo hiểm, cùng phát triển thị trường phái sinh, tài chính xanh và tài chính số.
Để thực hiện mục tiêu này, ông đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia, chuyển từ quản lý kiểm soát sang quản lý dựa trên rủi ro và dữ liệu, đồng thời đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa DNNN và nâng hạng thị trường nhằm thu hút vốn nước ngoài, từ đó cải thiện định giá và thanh khoản cho thị trường chứng khoán Việt Nam.