Hội thảo về giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức ngày 23/7 đã nêu rõ vai trò gánh vốn của hệ thống ngân hàng đối với tăng trưởng kinh tế. Theo bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thuộc Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 13/7 dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025; sau hơn 6 tháng, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế.
Áp lực cung ứng vốn đối với hệ thống ngân hàng ngày càng lớn khi nhu cầu vốn đầu tư xã hội dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng trong năm nay, và tăng lên mức 38,5 triệu tỷ đồng cho giai đoạn 2026-2030. Tỷ lệ tín dụng/GDP được cho ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào vốn vay ngân hàng.
Nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các ngân hàng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Điều này làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống tài chính.
Đại diện Ngân hàng Nhà nước cho rằng để giảm gánh nặng cho hệ thống ngân hàng, cần đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại các lĩnh vực không cần nắm giữ, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tư nhân IPO. Cũng nên nghiên cứu cho phép doanh nghiệp FDI phát hành cổ phiếu gắn với niêm yết trên thị trường chứng khoán.
TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, cho rằng mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi nguồn vốn rất lớn nhưng dư địa mở rộng tín dụng ngân hàng đã tới hạn. “Kênh tín dụng ngân hàng gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy, trong khi thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư còn nhiều dư địa nhưng chưa phát triển tương xứng,” ông Lực nhận định.
Ông Lực đề xuất ban hành một chương trình tổng thể cải cách và phát triển thị trường tài chính, nhằm thống nhất chiến lược đối với ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính số và tài chính xanh.
Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC), cho rằng một nền kinh tế tăng trưởng hai chữ số nhưng vẫn phụ thuộc tín dụng ngân hàng sẽ tiềm ẩn rủi ro. Hiện quy mô tín dụng tương đương khoảng 146% GDP, trong khi vốn hóa thị trường cổ phiếu mới đạt khoảng 82% GDP. VSDC cho rằng vấn đề không phải tín dụng quá lớn mà là thị trường vốn còn quá nhỏ và chưa đủ sức chia sẻ gánh nặng này với hệ thống ngân hàng.
Ở nhiều nền kinh tế, tín dụng ngân hàng chiếm khoảng 25-30% cơ cấu vốn, còn phần lớn vốn được huy động qua thị trường cổ phiếu và trái phiếu, điều Việt Nam có thể hướng tới. Lãnh đạo VDSC nhận thấy nghịch lý khi kinh tế tăng trưởng mạnh nhưng cổ phiếu của nhiều ngành nền tảng vẫn suy giảm, khiến thị trường chưa phản ánh đầy đủ tình hình của phần lớn doanh nghiệp.
Để khắc phục tình trạng này, VDSC đề xuất đẩy nhanh cổ phần hóa và thoái vốn Nhà nước tại các lĩnh vực không cần nắm giữ; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân IPO và nghiên cứu cho phép doanh nghiệp FDI phát hành cổ phiếu gắn với niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Ông Nguyễn Duy Linh, Tổng giám đốc Chứng khoán SHS, cho rằng chỉ số chứng khoán hiện vẫn chịu ảnh hưởng quá lớn bởi một số nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn. Thị trường cần bổ sung thêm nhiều doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, năng lượng, logistics, tiêu dùng và hạ tầng thông qua cổ phần hóa, IPO và niêm yết có chọn lọc để nâng cao chất lượng và tính đại diện của thị trường.
Về trái phiếu doanh nghiệp, SSI cho biết quy mô thị trường chỉ chiếm khoảng 6-7% GDP, quá nhỏ so với nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế. Theo SSI, khung pháp lý đang dần hoàn thiện, nhưng vấn đề còn lại nằm ở khâu thực thi; doanh nghiệp phải huy động vốn cho các dự án có hiệu quả, sử dụng vốn đúng mục đích và công bố thông tin đầy đủ nhằm tạo niềm tin cho nhà đầu tư.
Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tổng giá trị huy động vốn qua cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm đạt 325.300 tỷ đồng, tăng gần 16% so với cùng kỳ năm trước. Đây được xem là dấu hiệu tích cực cho sự cân bằng giữa nguồn vốn và nhu cầu đầu tư ở nền kinh tế, song vẫn đặt ra thách thức về khả năng hấp thụ nguồn cung cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường.