Việt Nam đặt mục tiêu sản xuất 20 triệu tấn hydrogen vào năm 2050 theo Quyết định số 165/QĐ-TTg, kéo theo nhu cầu vốn đầu tư khoảng 294 tỷ USD. Tuy nhiên, thách thức không chỉ nằm ở huy động vốn mà còn ở việc xây dựng các dự án đạt chuẩn tài chính bankable, đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư và tổ chức tín dụng, đồng thời có khả năng hấp thụ nguồn vốn ưu đãi và vốn thương mại quốc tế.
Theo báo cáo của GGGI và NIC công bố tháng 9/2026, quy mô vốn trên vượt xa khả năng đáp ứng của vốn tự có trong nước. Trên phạm vi toàn cầu, năm 2025 có khoảng 1.749 dự án hydrogen sạch được công bố với vốn cam kết hơn 110 tỷ USD, nhưng chỉ khoảng 30% đạt quyết định đầu tư cuối cùng hoặc đang xây dựng, vận hành.
Hướng tiếp cận đang được quan tâm là tài chính hỗn hợp với cấu trúc vốn nhiều tầng. Nguồn viện trợ không hoàn lại hoặc vay ưu đãi từ các định chế phát triển như Ngân hàng Thế giới, ADB, JICA, GIZ có thể kết hợp với vốn vay thương mại. Trong đó, vốn ưu đãi đóng vai trò tầng chịu lỗ đầu tiên hoặc giúp hạ lãi suất toàn gói vay, qua đó giảm rủi ro cho ngân hàng.
Với JETP, cam kết huy động ban đầu khoảng 15,5 tỷ USD đang được cụ thể hóa, trong đó có nhóm công tác chuyên trách về hydrogen xanh. Nguồn vốn này phù hợp với vai trò xúc tác như tài trợ nghiên cứu tiền khả thi và thiết kế kỹ thuật cơ sở. AZEC do Nhật Bản khởi xướng được kỳ vọng giúp kết nối doanh nghiệp Việt Nam với đối tác công nghệ, năng lượng Nhật Bản trong chuỗi giá trị hydrogen, amoniac xanh.
Trên cơ sở các điểm nghẽn, một số công cụ chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, quỹ khí hậu và khu vực tư nhân đã được đề xuất. Trước mắt, cần thí điểm hợp đồng chênh lệch giá hoặc chênh lệch carbon cho một đến hai dự án lớn, với phần chênh lệch giữa chi phí thực tế và giá thị trường được bù trong khoảng 10 năm đầu.
Bên cạnh đó, việc thành lập Quỹ Tín dụng xanh hydrogen từ vốn mồi ngân sách kết hợp JETP, AZEC, GCF có thể bảo lãnh khoảng 30-50% khoản vay, giúp đưa lãi suất tiệm cận hạ tầng truyền thống. Đồng thời, các doanh nghiệp nhà nước như PVN, Vinachem, EVN, TKV cần được khuyến khích ký hợp đồng bao tiêu thí điểm, kết hợp lộ trình phối trộn hydrogen sạch bắt buộc đến năm 2030 trong phân bón, lọc dầu và phát điện.
Để mở khóa dòng vốn, các chuyên gia đề xuất lộ trình triển khai theo ba giai đoạn. Trong 1-2 năm tới, cần ban hành tiêu chuẩn ESG, hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định, đồng thời thí điểm hợp đồng chênh lệch giá cho dự án trọng điểm.
Giai đoạn 3-5 năm, vận hành Quỹ Tín dụng xanh hydrogen qua VDB, hoàn thiện thị trường carbon trong nước và thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước ký hợp đồng bao tiêu dài hạn. Giai đoạn 5-10 năm, mở rộng đấu thầu cạnh tranh trợ cấp theo mô hình Ngân hàng Hydrogen châu Âu và phát hành trái phiếu xanh quốc tế.