VN-Index tăng kết thúc nửa đầu năm 2026 nhưng hành trình không đồng nhất giữa các quý đã tạo ra kết quả tự doanh khác biệt ở các công ty chứng khoán. Nhiều danh mục đầu tư ghi nhận lợi nhuận từ tài sản tài chính theo giá trị hợp lý, song lãi chưa thực hiện và lãi từ đánh giá lại danh mục có thể xoay chiều mạnh theo biến động thị trường.
Trong bối cảnh VN-Index đóng cửa ở mức 1.860,01 điểm vào tháng 6/2026, tăng khoảng 4,23% so với cuối năm 2025, bức tranh tự doanh cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa các công ty. Đà tăng trước đó đã đẩy giá trị danh mục lên, nhưng hiệu quả thực sự phụ thuộc vào cấu trúc tài sản và quy mô nhất định của từng đơn vị.
Trong nhóm đã công bố báo cáo quý II, VPBankS là một trong những trường hợp có quy mô thu nhập từ tài sản tài chính (FVTPL) lớn nhất. Lũy kế sáu tháng, lãi từ FVTPL đạt 3.461 tỷ đồng, gần gấp đôi cùng kỳ, và tổng doanh thu đạt 7.013 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 2.673 tỷ đồng, gần gấp ba lần nửa đầu năm 2025. Riêng quý II, lợi nhuận trước thuế đạt 2.159 tỷ đồng, gấp bốn lần so với cùng kỳ. Lãi từ FVTPL có thể bao gồm lãi bán tài sản, chênh lệch tăng do đánh giá lại, cổ tức và tiền lãi, khiến đánh giá kết quả cần xem xét cùng với chi phí và lỗ liên quan.
Trong khi đó, EVS cho thấy tác động trực tiếp từ đánh giá lại danh mục. Quý II/2026, EVS ghi nhận doanh thu hoạt động hơn 281 tỷ đồng, gấp hơn chín lần cùng kỳ. Lãi từ FVTPL đạt gần 278 tỷ đồng, trong đó hơn 276 tỷ đồng đến từ chênh lệch tăng do đánh giá lại tài sản tài chính. Nhờ đó, EVS báo lãi trước thuế gần 243 tỷ đồng, đảo chiều so với lỗ 9 tỷ đồng quý II/2025. Tuy nhiên, lãi đã thực hiện của EVS trong kỳ vẫn âm khoảng 33 tỷ đồng, cho thấy phần lớn lợi nhuận đến từ lợi thế định giá, còn lãi từ thanh khoản chưa thực hiện vẫn còn rủi ro cao.
"Đường đi" của VN-Index trong 6 tháng đầu năm 2026 phản ánh sự đảo chiều danh mục chứng khoán. Ví dụ điển hình cho sự biến động này là Chứng khoán VIX, cho thấy khả năng đảo chiều lợi nhuận tự doanh rất rõ. Quý II/2026, VIX ghi nhận lãi từ FVTPL là 929 tỷ đồng, giảm 45% so với cùng kỳ. Trong khi lãi bán tài sản đạt gần 176 tỷ đồng và lãi từ đánh giá lại danh mục khoảng 653 tỷ đồng, thì lỗ từ FVTPL lên tới 1.129 tỷ đồng, gấp hơn bốn lần quý II/2025, với lỗ đánh giá lại danh mục khoảng 1.090 tỷ đồng. Sau bù trừ, mảng tự doanh ước lỗ ~200 tỷ đồng trong quý. Kết quả này kéo lợi nhuận trước thuế quý II của VIX xuống còn khoảng 75 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế khoảng 76 tỷ đồng, giảm lần lượt 95% và 94% so với cùng kỳ. Dù vậy, VIX vẫn còn lượng chênh lệch dương lớn trong danh mục tại ngày 30/6, với giá gốc tài sản 17.203 tỷ đồng và giá trị hợp lý 20.819 tỷ đồng. Cổ phiếu niêm yết còn ghi nhận lãi tạm tính trên ~2.218 tỷ đồng, ủy thác đầu tư có chênh lệch dương khoảng 1.403 tỷ đồng.
Điều này cho thấy tự doanh phản ánh hai mặt: khi giá tài sản tăng, lợi nhuận có thể tăng nhanh, nhưng chưa bán danh mục đồng nghĩa thành quả chưa khóa lại và có thể thu hẹp ở các quý sau. Một công ty chứng khoán có thể chuyển từ lỗ sang lợi nhuận cao mà không cần tăng trưởng tương ứng ở hoạt động môi giới, cho thấy sự phụ thuộc vào cấu trúc danh mục và tỷ trọng lợi nhuận chưa thực hiện rất lớn. Trong bối cảnh đó, TCBS ghi nhận quý II lợi nhuận trước thuế đạt 2.097 tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng, TCBS có 3.555 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, với động lực từ thu nhập thuần từ cho vay ký quỹ và ứng trước tiền bán đạt 1.380 tỷ đồng, chiếm 42% tổng thu nhập thuần. Mảng ngân hàng đầu tư đóng góp 837 tỷ đồng, còn kinh doanh nguồn vốn và phân phối trái phiếu mang về 964 tỷ đồng.
Những trường hợp kể trên cho thấy lãi tự doanh vẫn là một động lực quan trọng của ngành, nhưng chất lượng lợi nhuận lại phụ thuộc vào thành phần danh mục và cách thức ghi nhận. Lãi từ đánh giá lại (revaluation) có độ ổn định thấp hơn lãi đã thực hiện và có thể bị biến động mạnh theo giá đóng cửa cuối kỳ. Do đó, việc đánh giá hiệu quả cần đối chiếu với bảng cân đối kế toán, thuyết minh danh mục và lưu chuyển tiền tệ chứ không chỉ nhìn vào một con số lãi tự doanh tổng cộng. Đây là một bối cảnh mà nhà đầu tư cần phân tích kỹ lưỡng giữa các công ty chứng khoán để hiểu được sức khỏe và định giá cổ phiếu dựa trên cấu trúc lợi nhuận tự doanh thực sự của từng đơn vị.
Nhìn chung, bài học rút ra là lãi tự doanh ở ngành chứng khoán rất nhạy cảm với giá tài sản và thành phần danh mục. Đọc lối diễn biến này đòi hỏi nhà đầu tư xem xét kỹ lưỡng từng yếu tố trong báo cáo tài chính, chứ không chỉ dựa trên con số lợi nhuận từ tự doanh để đánh giá sức khỏe hay triển vọng của một công ty. Với yếu tố biến động cao, các ngân hàng và công ty chứng khoán sẽ tiếp tục công bố các kỳ đánh giá danh mục và thuyết minh liên quan để giúp thị trường có cái nhìn toàn diện hơn về nguồn lực tự doanh.