Trong vòng bốn năm gần đây, bảng xếp hạng lợi nhuận ngành chứng khoán đã có sự thay đổi đáng kể. Khi trước đây, các tên đứng đầu chủ yếu là các công ty chứng khoán độc lập hoặc doanh nghiệp có vốn nước ngoài, nay nhóm thuộc hệ sinh thái ngân hàng đang dần chiếm ưu thế.
Vào Quý II/2022, top 10 chỉ có 3 công ty thuộc hệ sinh thái ngân hàng và phần lớn còn lại là các công ty độc lập hoặc doanh nghiệp nước ngoài. Đến Quý II/2026, số công ty thuộc ngân hàng trong top 10 đã tăng lên 5, chiếm một nửa bảng xếp hạng, trong khi nhóm độc lập còn 5 đại diện và không còn công ty nước ngoài nào góp mặt.
Song song với thay đổi về thứ hạng, quy mô lợi nhuận ngành cũng mở rộng đáng kể. Quý II/2022, lợi nhuận cao nhất ngành chỉ khoảng hơn 830 tỷ đồng; đến Quý II/2026, con số này gần 2.200 tỷ đồng, gấp hơn 3 lần.
Trong làn sóng dịch chuyển, VPBankS (HoSE: VPX) nổi lên như một trường hợp đặc biệt. Quý II/2022 VPBankS đã từ con số không lọt vào top 15 lợi nhuận, sau khi VPBank mua lại. Đến Quý II/2026, VPBankS đạt 2.159 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, gấp gần 4 lần so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, lợi nhuận của VPBankS gần 2.700 tỷ đồng.
Song song với đà tăng lợi nhuận, VPBankS tiếp tục mở rộng quy mô tài sản với gần 89.000 tỷ đồng và dư nợ cho vay ký quỹ, ứng trước tiền bán đạt hơn 38.000 tỷ đồng, đồng thời dư địa để mở rộng còn khoảng 33.000 tỷ đồng.
Với sự hậu thuẫn của VPBank và đối tác chiến lược SMBC, VPBankS cải thiện vị thế môi giới trên các sàn: HoSE, HNX và UPCoM; thị phần tương ứng ở HoSE là 3,57%, HNX 6,71% và UPCoM 5,28%. Trên thị trường chứng quyền có đảm bảo, VPBankS đứng Top 4 về thanh khoản với khoảng 450 triệu đơn vị được giao dịch.
Nhờ thế mạnh vốn và mạng lưới khách hàng, VPBankS được hưởng lợi từ hệ sinh thái của VPBank với hơn 30 triệu khách hàng, kết hợp công nghệ và dữ liệu để đẩy mạnh bán chéo sản phẩm và các dịch vụ ngân hàng đầu tư.
Diễn biến này phản ánh sự chuyển đổi từ lợi thế dựa trên mạng lưới môi giới sang vốn và nền tảng công nghệ, cùng với hệ sinh thái ngân hàng mẹ. Các doanh nghiệp này thừa hưởng dữ liệu, mạng lưới phân phối và danh sách khách hàng từ ngân hàng mẹ để mở rộng hoạt động môi giới, ngân hàng đầu tư và quản lý tài sản cho cả cá nhân lẫn doanh nghiệp.
Tính đến Quý II/2026, sự thay đổi về cấu trúc lợi nhuận ngành chứng khoán cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của hệ sinh thái ngân hàng trong nguồn vốn và chi phí vốn cạnh tranh. Sự phát triển này đi kèm với nhu cầu về margin và ngân hàng đầu tư ngày càng lớn, giúp các công ty thuộc hệ sinh thái ngân hàng có cơ hội tăng tốc vốn hóa nhanh chóng.
Tiềm năng tăng trưởng được hỗ trợ bởi nền tảng công nghệ, dữ liệu và mạng lới khách hàng quy mô từ các tập đoàn mẹ, qua đó thúc đẩy bán chéo sản phẩm và mở rộng danh mục dịch vụ cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.
Tín hiệu tổng quan cho nhà đầu tư là sự dịch chuyển lợi thế cạnh tranh và định hình lại bức tranh lợi nhuận ngành trong ngắn hạn và trung hạn, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu vốn phục vụ cho các mảng như cho vay ký quỹ và ngân hàng đầu tư tiếp tục tăng.