Việt Nam đang đối mặt với bài toán lớn khi nguồn lực tài chính trong dân rất dồi dào nhưng phần lớn vẫn nằm trong các kênh tiết kiệm, chưa được chuyển hóa thành vốn đầu tư dài hạn. Trong khi đó, nhu cầu vốn cho giai đoạn 2026-2030 được dự báo lên tới khoảng 1.460 tỷ USD, gần gấp đôi giai đoạn trước. Tỷ lệ tín dụng trên GDP đã đạt 146%, cho thấy dư địa mở rộng tín dụng ngân hàng ngày càng hạn hẹp.
Vì vậy, thị trường vốn cần đóng vai trò lớn hơn trong việc cung ứng nguồn lực trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Theo số liệu tại tọa đàm kỷ niệm 30 năm ngành chứng khoán, đến ngày 30/9/2026, vốn hóa thị trường cổ phiếu vượt 10,3 triệu tỷ đồng, quy mô trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2,94 triệu tỷ đồng. Tổng mức huy động vốn qua thị trường chứng khoán trong 9 tháng đầu năm đạt 731,6 nghìn tỷ đồng, tăng 85,6% so với cùng kỳ, trong đó doanh nghiệp huy động gần 564,6 nghìn tỷ đồng.
Việc FTSE Russell nâng hạng thị trường lên mới nổi thứ cấp từ 21/9/2026 tạo thêm điều kiện thu hút vốn ngoại. Tuy nhiên, nếu chỉ trông chờ vào vốn ngoại sẽ không đủ để giải quyết nhu cầu đầu tư khổng lồ.
Tiền gửi ngân hàng của người dân và tổ chức đến cuối năm 2025 đạt khoảng 16,5 triệu tỷ đồng, tương đương 128,5% GDP, trong khi tổng tài sản ròng của các quỹ đầu tư chỉ khoảng 99.000 tỷ đồng (0,8% GDP). Đến tháng 9/2026, cả nước có 124 quỹ đầu tư với hơn 700.000 nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ, nhưng quy mô vẫn rất khiêm tốn.
Bà Lương Thị Mỹ Hạnh, đại diện Dragon Capital, cho rằng cần phát triển quỹ đầu tư như cầu nối giữa người có tiền nhàn rỗi và nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
Giáo dục tài chính là nền tảng dài hạn giúp người dân hiểu sự khác biệt giữa tiết kiệm và đầu tư, hình thành thói quen đầu tư định kỳ, từ đó phân bổ vốn hiệu quả hơn.