Ở quý 1/2026, báo cáo tài chính của nhiều CTCK cho thấy một nghịch lý giữa quy mô cho vay và thị phần giao dịch. Nhiều công ty có dư nợ cho vay lớn, thậm chí nằm trong nhóm dẫn đầu thị trường, nhưng thị phần giao dịch lại ở mức khiêm tốn hoặc chưa thuộc top 10. Điều này cho thấy một khu vực cho vay mang tính đòn bẩy nhưng không phục vụ nhu cầu giao dịch của nhà đầu tư cá nhân một cách rõ rệt.
Ví dụ nổi bật cho hiện tượng này gồm ACBS và Mirae Asset, hai CTCK có dư nợ cho vay lớn nhưng thị phần giao dịch lại không tương xứng. Cụ thể, VPBankS có dư nợ cho vay trên 36.000 tỷ đồng tính đến ngày 31/3, xếp thứ 3 toàn ngành, nhưng thị phần giao dịch quý 1 trên HoSE chỉ 2,94%, xếp thứ 9. Trong khi đó, VPS dẫn đầu về thị phần môi giới với 15,32% nhưng dư nợ cho vay chỉ khoảng 30.000 tỷ đồng.
Đáng chú ý, TCBS có dư nợ cho vay lớn nhất ngành với gần 45.000 tỷ đồng, bỏ xa các CTCK phía sau, song thị phần lại ở mức 8,85%. Mức thị phần này chỉ nhỉnh hơn một chút so với Vietcap (7,35%), khi CTCK này có dư nợ cho vay chưa tới 17.000 tỷ đồng, tầm bằng 1/3 TCBS. Những dữ liệu này cho thấy khu vực cho vay đã phát triển riêng rẽ so với hoạt động môi giới giao dịch.
Ở một góc độ khác, hiện tượng này được coi như dấu hiệu của xu hướng ngân hàng hóa hay shadow banking đang thịnh hành trong nhóm CTCK. Đối với bối cảnh tín dụng thắt chặt có chọn lọc, ngân hàng đôi khi cấp vốn cho CTCK và doanh nghiệp với điều kiện nhanh gọn và thẩm định lỏng lẻo hơn so với các kênh tài trợ truyền thống.
Việc này mang lại lợi ích cho ba bên: ngân hàng có thêm đầu ra tín dụng; CTCK có thu nhập từ lãi; doanh nghiệp được tiếp cận vốn dễ dàng. Tuy nhiên, rủi ro về phía trả nợ của các doanh nghiệp có thể tăng nếu hoạt động sản xuất và thanh khoản suy giảm, và bán giải chấp có thể ảnh hưởng tới cổ đông nhỏ nhiều hơn so với nhà đầu tư cá nhân.
Đến cuối quý 1/2026, toàn thị trường chứng khoán ghi nhận dư nợ cho vay (gồm margin và ứng trước bán) ước tính khoảng 415.000 tỷ đồng, tăng khoảng 9.000 tỷ so với cuối năm 2025. Trong đó dư nợ cho vay ký quỹ (margin) ước tính khoảng 405.000 tỷ đồng, tăng 13.000 tỷ và vượt mức cao nhất trong lịch sử chứng khoán Việt Nam. Đây là một dấu hiệu cho thấy quy mô cho vay đã vượt mức hỗ trợ cho giao dịch và đòn bẩy có thể được khai thác ở nhiều CTCK.
Những diễn biến này khiến ngân hàng có thêm động lực tham gia nắm cổ phần các CTCK và mở rộng hợp tác, trong khi CTCK mở rộng quy mô cho vay và rủi ro quản trị rủi ro cần được theo dõi chặt chẽ. Shadow banking có thể mang lại lợi ích ngắn hạn nhưng đòi hỏi các quy định và hệ thống quản trị rủi ro được củng cố để hạn chế rủi ro hệ thống.