Theo thống kê của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, nhà đầu tư nước ngoài bán ròng 37.500 tỷ đồng cổ phiếu ngân hàng, vượt xa mức bán ròng của cả năm 2025 (32.100 tỷ đồng). Riêng quý 3, khối ngoại bán ròng khoảng 9.500 tỷ đồng, giảm một nửa so với mức kỷ lục 19.300 tỷ đồng của quý 2, cho thấy áp lực bán đang hạ nhiệt dần.
Trong bối cảnh đó, lợi nhuận trước thuế quý 3/2026 của 11 ngân hàng trong danh mục theo dõi dự kiến đạt 85.226 tỷ đồng, tăng 23% so với cùng kỳ nhưng giảm 7% so với quý trước. Tổng thu nhập hoạt động ước đạt 168.800 tỷ đồng (+20% so với cùng kỳ), trong đó thu nhập lãi thuần đóng góp 134.000 tỷ đồng và thu nhập ngoài lãi khoảng 35.000 tỷ đồng.
Nhóm ngân hàng quốc doanh dự kiến tăng trưởng lợi nhuận 28% so với cùng kỳ, vượt trội so với mức 19% của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, nhờ chi phí trích lập dự phòng tăng thấp từ nền so sánh cao của năm ngoái. Dẫn đầu về quy mô là CTG (14.143 tỷ đồng, +33%), VCB (13.405 tỷ đồng, +19%) và VPB (10.678 tỷ đồng, +16%). Về tốc độ tăng trưởng, HDB nổi bật với mức +43% nhờ tín dụng tăng mạnh (+26% từ đầu năm), trong khi OCB là ngân hàng duy nhất sụt giảm lợi nhuận (-8%).
VDSC chỉ ra ba yếu tố cần theo dõi cho quý 4/2026: (1) Hạn mức tín dụng bổ sung dự kiến được Ngân hàng Nhà nước cấp khi nhiều ngân hàng đã gần cạn room – tín dụng toàn hệ thống đến 23/9 tăng 10,37% từ đầu năm; (2) Áp lực chi phí vốn tiếp tục neo cao khi khoảng 11 ngân hàng trả lãi tiết kiệm từ 9%/năm trở lên trong tháng 9; (3) Diễn biến nợ nhóm 2 tăng trở lại hai quý liên tiếp, một chỉ báo sớm cho áp lực trích lập năm 2027.
Thu nhập lãi thuần quý 3 dự kiến tăng 23% so với cùng kỳ, đóng góp 80% vào doanh thu danh mục, chủ yếu nhờ quy mô tín dụng tăng trưởng. Tuy nhiên, biên lãi ròng (NIM) dự phóng chững lại sau khi tạo đỉnh trong quý 2, dù vẫn tăng 10 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Tín dụng danh mục dự kiến đạt 13% từ đầu năm (tương đương 18,6% so với cùng kỳ), thấp hơn mức 14,7% của cùng kỳ năm trước nhưng cao hơn đáng kể tăng trưởng toàn hệ thống.
Nợ xấu hình thành ròng dự kiến giảm xuống khoảng 31.600 tỷ đồng (0,25% dư nợ) từ mức 41.100 tỷ đồng (0,34%) của quý 2, theo tính chu kỳ. Tuy nhiên, các chỉ báo sớm vẫn xấu đi: tỷ lệ nợ nhóm 2 của danh mục tăng lên 1,38% (quý 1: 1,28%), tập trung ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn như HDB (từ 2,58% lên 4,70%) và VPB (duy trì 3,17%). Lãi và phí dự thu tăng 40% so với cùng kỳ, gấp đôi tốc độ tăng dư nợ (+19%), hàm ý một phần thu nhập lãi chưa thu được bằng tiền và có thể phải thoái thu khi khoản vay chuyển nhóm.
Hệ số P/B ngành tại ngày 28/9/2026 ở mức 1,42 lần, giảm từ 1,50 lần cuối quý 2 và 1,55 lần cuối năm 2025, tiệm cận vùng -1 độ lệch chuẩn (1,39 lần) và thấp hơn đáng kể mức trung bình 5 năm (1,63 lần). Trong quý 3, P/B từng lùi về 1,33 lần – mức thấp nhất từ đầu năm – trước khi hồi phục nhẹ. Mức chiết khấu kéo dài phản ánh chênh lệch giữa ROAE bình quân (16,2%) và chi phí vốn chủ sở hữu (14,6%) đã thu hẹp về 1,6 điểm phần trăm, thấp nhất kể từ năm 2020.
Xét theo từng cổ phiếu, nhóm quốc doanh đang giao dịch sát đáy 3 năm: BID ở 1,44 lần (trung bình 1,86 lần), VCB 1,96 lần (trung bình 2,53 lần) và CTG 1,17 lần (trung bình 1,38 lần). Trong nhóm tư nhân, ACB (1,23 lần) và VIB (1,02 lần) cũng ở vùng đáy, trong khi HDB, MSB, VPB và TCB giao dịch cao hơn trung bình 3 năm. Tương quan P/B – ROE cho thấy CTG, MBB và HDB nằm phía trên đường xu hướng, tức định giá chưa phản ánh tương xứng khả năng sinh lời.
Dù định giá hấp dẫn, khối ngoại vẫn bán ròng trong quý 3, tập trung ở VPB (-2.900 tỷ đồng), TCB (-1.900 tỷ đồng), ACB (-1.400 tỷ đồng), VCB (-1.300 tỷ đồng) và STB (-1.200 tỷ đồng). Ngược lại, HDB (+700 tỷ đồng), LPB (+560 tỷ đồng), SSB (+430 tỷ đồng) và MBB (+150 tỷ đồng) là số ít mã được mua ròng. Sự kiện nâng hạng FTSE chỉ tạo hiệu ứng ngắn hạn: trong tuần 14–18/9, khối ngoại mua ròng 2.300 tỷ đồng, nhưng ngay sau đó bán ròng 2.400 tỷ đồng trong 7 phiên, xóa toàn bộ lượng mua trước đó.