Ngày 18/7, tại hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp, VCB và Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank, cho biết từ góc độ ngân hàng thương mại còn tồn tại một số khó khăn cần được quan tâm. Các vấn đề được nêu ra bao gồm bố trí đủ nguồn vốn để cung ứng tín dụng, bất cân đối nguồn vốn, chi phí vốn tăng, cùng các yếu tố liên quan đến nguồn cung ngoại tệ và tỷ giá. Ngoài ra, nội dung liên quan tới chính sách tài sản bảo đảm và vay vốn của các địa phương có quy hoạch cũng được xem là thách thức đối với tài sản bảo đảm của các ngân hàng.
Về bối cảnh vĩ mô, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% thì tỉ lệ đầu tư cần đạt 40% GDP. Tuy vậy, mức tiết kiệm bình quân trong nước ước tính khoảng 36,5% GDP, và nếu loại trừ khu vực phi chính thức thì con số này còn thiếu sót hơn. Vietcombank cho biết mình tuân thủ chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về mặt bằng lãi suất huy động, đồng thời nhận định nguồn vốn huy động đang thiếu so với nhu cầu tăng trưởng tín dụng.
Thông tin cho hay LDR (tỉ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động) được Ngân hàng Nhà nước cho phép ở mức 80%, trong khi Vietcombank hiện ở mức dưới khoảng 70%, cho thấy sự an toàn và kiểm soát LDR tốt. Vietcombank cam kết đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng và cho thị trường; trong thời gian qua, ngân hàng vẫn đảm bảo cung ứng đủ tiền ra thị trường để hỗ trợ thanh khoản gian đoạn khó khăn.
Theo phân tích của Vietcombank, tích lũy trong nước sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng tín dụng và nhiều dự án lớn đang được triển khai. Do vậy, giải pháp tất yếu được đề xuất là huy động nguồn vốn từ bên ngoài, đặc biệt thông qua phát hành trái phiếu quốc tế bởi Bộ Tài chính. Với uy tín của Việt Nam, trái phiếu quốc tế được kỳ vọng có lãi suất hấp dẫn hơn so với việc các doanh nghiệp tự huy động.
“Chúng tôi rất mong thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, sẽ được phát triển mạnh mẽ hơn. Hiện quy mô trái phiếu doanh nghiệp chỉ khoảng 10% GDP, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia hay Trung Quốc,” ông Tùng nhấn mạnh.
Để giải quyết vấn đề, Vietcombank cho rằng ngành ngân hàng có thể tham gia bằng cách nhận tài sản bảo đảm từ các đơn vị phát hành. Nhiều trái phiếu doanh nghiệp phát hành hiện nay khiến nhà đầu tư chưa yên tâm về tài sản bảo đảm (ví dụ bất động sản hay tài sản hình thành từ vốn vay). Nếu đồng bộ cả ngành ngân hàng và tài chính, điều này sẽ tạo động lực cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Phạm Đức Ấn, cho biết các ngân hàng trong nước cũng phải huy động vốn từ nước ngoài, vì vậy chi phí vốn sẽ gia tăng. Ông nhấn mạnh nếu cần có các cơ chế đặc thù, doanh nghiệp Việt Nam có thể làm việc với nhau để xây dựng, còn Ngân hàng Nhà nước sẽ tham gia để xem xét.
Ông cho biết các vấn đề Vietcombank nêu phản ánh bối cảnh điều hành chính sách lãi suất trong thời gian qua gặp nhiều áp lực khi nhu cầu vốn của nền kinh tế ở mức cao trong khi khả năng huy động vốn còn hạn chế. Việc huy động vốn từ nước ngoài sẽ được Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu và có sự vào cuộc trong thời gian tới, phối hợp với Bộ Tài chính để cân đối và triển khai nội dung này.
Về cho vay ngoại tệ, NHNN đang xem xét áp dụng đối với một số nhóm đối tượng, trong đó doanh nghiệp nhập khẩu để phục vụ đầu tư có thể được xem xét cho vay bằng ngoại tệ. Đồng thời, NHNN cũng đang xem xét mở rộng đối tượng áp dụng trong thời gian tới. Hiện khoảng 80% nguồn vốn huy động là ngắn hạn, trong khi nguồn vốn trung và dài hạn chỉ chiếm khoảng 20%.
Thống đốc cho biết mỗi TCTD phải có trách nhiệm kiểm soát an toàn hoạt động, vừa hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, vừa bảo đảm an toàn cho toàn hệ thống. Về chính sách nhận tài sản bảo đảm để doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra công chúng hoặc trái phiếu riêng lẻ, NHNN đã báo cáo Chính phủ và dự kiến đưa nội dung này vào một điều của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng thương mại sẽ được trao quyền quản lý tài sản phục vụ hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp, kỳ vọng đây sẽ là kênh hỗ trợ phát triển thị trường vốn và chia sẻ bớt nhu cầu vốn trung-dài hạn của doanh nghiệp.