Thị trường chứng khoán Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới khi được ghi nhận lên nhóm thị trường mới nổi. Sự công nhận từ các tổ chức quốc tế phản ánh quá trình cải cách và nâng cao chất lượng minh bạch của hàng hóa niêm yết. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, tính minh bạch và độ sâu của hàng hóa trên thị trường.
FDI niêm yết cho thấy dư địa lớn cần được khai thác trong thời gian tới. Thực tế cho thấy quy mô thị trường tăng trưởng tích cực cả về vốn hóa và thanh khoản, nhưng cơ cấu hàng hóa niêm yết vẫn còn nhiều điểm cần hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn. Nhóm cổ phiếu ngân hàng, tài chính và bất động sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi các doanh nghiệp quy mô lớn về sản xuất, hạ tầng và công nghệ còn hạn chế về số lượng và mức độ đại diện.
Trong bối cảnh đó, mở rộng nguồn cung chất lượng được xem là nhiệm vụ trọng tâm. Hai hướng chính được chú trọng là thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước gắn với niêm yết và thu hút doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia thị trường. Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Thị Chân Phương cho biết hiện thị trường mới có 10 doanh nghiệp FDI niêm yết hoặc đăng ký giao dịch, trong khi nước ta có hàng nghìn doanh nghiệp FDI đang hoạt động. Nhiều doanh nghiệp FDI đã hiện diện lâu tại Việt Nam và có nhu cầu niêm yết nhưng chưa tham gia thị trường.
Về mặt pháp lý, Luật Chứng khoán 2019 và Luật sửa đổi 2024 quy định công ty đại chúng không phân biệt nguồn vốn hay quốc tịch, do đó FDI có thể tham gia. Tuy nhiên, vẫn có khó khăn về kỹ thuật như chuyển đổi mô hình hoạt động, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, công bố thông tin và chuẩn mực kế toán, khiến tiến trình niêm yết của doanh nghiệp FDI còn chậm.
Ở góc độ quản lý đầu tư, ông Trần Tiến Dũng, Trưởng ban Giám sát công ty đại chúng (UBCKNN) cho rằng pháp luật hiện hành bảo đảm nguyên tắc không phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Ông cho rằng vấn đề cốt lõi nằm ở cơ chế thực thi, giám sát và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp. Ngoài ra, bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, nhấn mạnh khái niệm doanh nghiệp FDI mang tính linh hoạt theo tỷ lệ sở hữu tại từng thời điểm nhưng nguyên tắc xuyên suốt là bảo đảm bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp.
Đẩy mạnh thoái vốn nhà nước để tăng nguồn cung hàng hóa được đánh giá là giải pháp thực tiễn hiện nay. Theo ông Nguyễn Minh Hoàng, Giám đốc Phân tích tại Công ty Chứng khoán Nhất Việt (VFS), các vướng mắc lớn tập trung vào đất đai và định giá tài sản, chiếm tỷ lệ đáng kể trong các khó khăn của doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa.
Vấn đề đất đai không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn liên quan trực tiếp đến quản lý tài sản công và minh bạch xác định giá trị doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng tiến độ đưa hàng hóa mới ra thị trường. Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC) cho rằng cần thúc đẩy tiến độ nhưng phải bảo đảm thận trọng để tránh rủi ro. Bà Phạm Thị Thùy Linh, Trưởng ban Phát triển thị trường (UBCKNN) cho rằng nâng hạng thị trường chỉ là bước khởi đầu và đa dạng hóa hàng hóa niêm yết là yêu cầu trọng tâm.
Theo Nghị định số 57/2026/NĐ-CP về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, có hiệu lực từ 13/2/2026, cổ phần hóa phải gắn với nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Nghị định quy định đấu giá công khai, mở rộng nhà đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời siết điều kiện tham gia nhằm bảo đảm minh bạch và hiệu quả cổ phần hóa. Thị trường chứng khoán Việt Nam đang vượt qua giai đoạn tăng trưởng về lượng và chuyển sang yêu cầu về chất; tháo gỡ nút thắt hàng hóa, đặc biệt từ cổ phần hóa và FDI niêm yết, được xem là điều kiện để thị trường phát triển bền vững.