Theo báo cáo mới nhất từ S&I Rating, tổng tài sản của ngành chứng khoán Việt Nam đã tăng từ 612 nghìn tỷ đồng năm 2024 lên 904 nghìn tỷ đồng năm 2025, tương ứng mức tăng 48%. Động lực tăng trưởng đến từ mở rộng danh mục cho vay ký quỹ và vốn chủ sở hữu.
Tổng vốn chủ sở hữu toàn ngành tăng 40% trong năm 2025, đạt 398,9 nghìn tỷ đồng. Lợi nhuận giữ lại cũng tăng từ 51,8 nghìn tỷ lên 73,5 nghìn tỷ đồng, tạo nguồn vốn nội tại cho ngành.
Tỷ lệ Dư nợ cho vay ký quỹ trên Vốn chủ sở hữu (margin/VO) của toàn ngành tăng từ 91% (2024) lên 107% (2025). Theo giới hạn quy định ở mức 2 lần vốn chủ sở hữu, dư địa vẫn còn nhưng nhiều công ty chứng khoán đã tiến gần ngưỡng này, như HCM 194%, MBS 182%, và Mirae Asset 177%.
Tính đến quý 1/2026, tỷ lệ dư nợ margin/vốn chủ sở hữu toàn ngành ở mức 99,7%, và nhiều công ty đã tiệm cận mức tối đa được phép (200%). Các đơn vị như HCM 195,4%, MBS 177,6%, Mirae Asset 167,9% cho thấy mức độ đòn bẩy vẫn ở mức cao đối với nhiều bên.
Về cơ cấu vốn cuối năm 2025, ngành này có 55,9% nợ phải trả và 44,1% vốn chủ sở hữu, với đòn bẩy 235%. Nợ ngắn hạn chiếm tới 96% và 88% trong số đó là vay ngắn hạn từ ngân hàng dưới 12 tháng. Phân bổ trái phiếu ngắn hạn và dài hạn chỉ chiếm 4,6% tổng nợ phải trả, trong khi nợ dài hạn chỉ ở mức 3,8%.
Theo S&I Rating, sự lệch giữa huy động và tín dụng có thể khiến lãi suất tăng và tạo áp lực lên nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn nếu dòng tiền bị thiếu cân đối. Một số công ty đã huy động vốn dài hạn từ trái phiếu như ORS, VDS, VCK, DSE, TCX, MBS, VND nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng ngắn hạn.
Tỷ lệ vốn khả dụng (CAR) được xác định tối thiểu là 180% cho các công ty chứng khoán. Tất cả 18 công ty trong danh sách quan sát đều vượt mức này, song mức độ phân hóa giữa các đơn vị rất lớn. Nhóm dẫn đầu TCX, VPX, VCK, SSI, VIX có CAR từ 500%–900%, nhờ phát hành tăng vốn và cải thiện danh mục cho vay ký quỹ. Trong khi đó, VCB-lượt >450% vẫn ở mức an toàn, còn VND, HDBS, VCBS cho thấy CAR có xu hướng giảm và cần theo dõi.
Theo nhận định của S&I Rating, căng thẳng thanh khoản có thể khiến lãi suất tăng cao hơn so với mặt bằng, ảnh hưởng đến chi phí vốn và biên lợi nhuận của ngành. Rủi ro lỗ chưa thực hiện đối với các trái phiếu doanh nghiệp trong danh mục HTM khi lãi suất tăng lên cũng có thể làm bào mòn vốn chủ sở hữu, dù chưa ghi nhận trực tiếp lên báo cáo kết quả kinh doanh.
Hiện tại, TCX (Chứng khoán TCBS) được ghi nhận là danh mục nắm giữ trái phiếu lớn nhất, tiếp theo VND, VPX, HCM, VCK, VCI và các đơn vị khác. Báo cáo nhấn mạnh rằng nếu lãi suất tăng quá mạnh, triển vọng đối với các doanh nghiệp niêm yết và xu hướng tăng giá cổ phiếu trên diện rộng có thể bị ảnh hưởng.
Những kết quả từ báo cáo của S&I Rating cho thấy rủi ro lãi suất và cấu trúc vốn là yếu tố cần theo dõi chặt chẽ đối với ngành chứng khoán Việt Nam. Sự phụ thuộc lớn vào vốn vay ngắn hạn và áp lực từ thị trường tín dụng có thể ảnh hưởng ngắn hạn đến thanh khoản và lợi nhuận, trong khi rủi ro lỗ lãi suất trên danh mục trái phiếu HTM có thể ảnh hưởng tới vốn chủ sở hữu. Việc huy động vốn và quản trị rủi ro tốt sẽ quyết định hướng đi của các công ty chứng khoán trong thời gian tới.