Dù vẫn đang ở năm tăng trưởng thứ 4 liên tiếp, nhiều mã ngân hàng sau khi liên tục lập đỉnh lịch sử lại rơi sâu khỏi vùng đỉnh, phản ánh những vận động cực đoan khi chịu ảnh hưởng của môi trường lãi suất cao và các sự kiện địa chính trị.
19/27 cổ phiếu ngân hàng đang ở trạng thái điều chỉnh tính đến hết phiên giao dịch ngày 10/06, tương đương khoảng 70% của nhóm. Dù vậy, nhóm cổ phiếu ngân hàng vẫn ghi nhận 44 lần phá kỷ lục giá đóng cửa kể từ đầu năm 2026. Đáng chú ý là các đỉnh lịch sử không chỉ tập trung ở nhóm đầu ngành mà còn xuất hiện ở các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ.
STB là cổ phiếu lập kỷ lục nhiều nhất với 12 lần, trong khi ABB cũng ghi nhận 12 lần phá đỉnh kể từ đầu năm. Trong phiên 10/06, ABB tiếp tục thiết lập mức giá đóng cửa cao nhất lịch sử.
Tính đến hết phiên giao dịch 10/6, ABB đã nổi lên như một điểm nhấn khi giá cổ phiếu tăng mạnh bất chấp xu hướng chung. Diễn biến của ABB càng đáng chú ý khi ba năm trước đó cổ phiếu này không có lần lập đỉnh nào; từ đầu năm 2026 đến nay thị giá ABB tăng 15.12%, vượt trên cả ACB với mức tăng 10.42%, vốn được xem là cổ phiếu có dấu hiệu tạo sóng gần đây.
Động lực của ABB được cho là liên quan đến kế hoạch chuyển niêm yết sang HOSE, nội dung đã được cổ đông thông qua tại ĐHĐCĐ thường niên 2026. Một trường hợp tương tự là VBB, cổ phiếu này hiện tăng tới 26.93% từ đầu năm và trở thành mã tăng mạnh nhất nhóm ngân hàng.
Tính đến hết phiên giao dịch 10/6, VBB cho thấy diễn biến tích cực dù bối cảnh chuyển sàn vẫn được chú ý. Trong khi đó, LPB tăng 17.97% và có 9 lần thiết lập đỉnh lịch sử, xếp thứ ba toàn ngành về số lần phá đỉnh.
Ở nhóm ngân hàng quốc doanh, BID có 5 lần phá kỷ lục, VCB có 3 lần và CTG có 2 lần. Tuy nhiên, tất cả đều chịu áp lực khi thị trường bước vào giai đoạn “bear market”: BID giảm khoảng 26%% từ vùng đỉnh gần nhất, CTG giảm khoảng 23%, và VCB mất trên 22%.
Việc một cổ phiếu vừa liên tục lập đỉnh lịch sử rồi nhanh chóng rơi vào thị trường gấu cho thấy mức độ biến động ngày càng lớn của nhóm ngân hàng.
Lợi nhuận tăng nhưng áp lực phân hóa tiếp tục hiện rõ ở toàn ngành. Theo Báo cáo của Chứng khoán Quốc gia NSI, quý I/2026 có 20/27 ngân hàng niêm yết tăng trưởng lợi nhuận, trong khi 7 ngân hàng vẫn tăng trưởng âm, chủ yếu ở nhóm quy mô vừa và nhỏ. Tổng doanh thu thuần của 27 ngân hàng đạt khoảng 357.8 nghìn tỷ đồng, tăng 20.2% cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế đạt hơn 77.3 nghìn tỷ đồng, tăng 13.6%.
Dù vậy, tăng trưởng tín dụng toàn ngành đến hết quý I chỉ đạt 2.7%, cho thấy nhu cầu vốn chưa được cải thiện mạnh sau giai đoạn cao điểm sản xuất kinh doanh cuối năm trước. Nhóm cổ đông NSI cho rằng xu hướng phân hóa đang ngày càng rõ, với 6 ngân hàng lớn gồm VCB, BID, CTG, TCB, MBB và VPB đóng góp tới 61.2% tổng lợi nhuận toàn ngành.
Trong khi nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ đối mặt với chi phí vốn, thanh khoản và biên lãi ròng (NIM) áp lực, LDR toàn ngành tăng lên khoảng 86%, cho thấy tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn. Theo đánh giá của VIS Rating, môi trường hoạt động cho ngành ngân hàng năm 2026 không thuận lợi khi thanh khoản thắt chặt và lãi suất ở mức cao, khiến chất lượng tài sản chịu áp lực.
Trong 3 tháng đầu năm, tỷ lệ nợ có vấn đề tăng lên 2.2%. Sự suy giảm chất lượng tài sản tập trung ở nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, đặc biệt với các nhà băng có tỷ trọng cho vay bán lẻ lớn. Các kế hoạch tăng vốn cho năm 2026 được cho là sẽ củng cố vốn cho các ngân hàng nhỏ và hỗ trợ tăng trưởng tại nhóm ngân hàng lớn, song vẫn có thể gây áp lực pha loãng cổ phiếu ngắn hạn khi vốn cổ đông được huy động.
Những diễn biến trên cho thấy một bức tranh phân hóa rõ nét giữa các nhóm ngân hàng và nhấn mạnh rủi ro ngắn hạn đi kèm triển vọng dài hạn tích cực khi thị trường phục hồi và dòng vốn được phân bổ lại theo chất lượng tài sản và quy mô ngân hàng.
Nguồn thông tin: NSI và VIS Rating cùng các số liệu được cập nhật đến quý I/2026 và ngày 10/06/2026, phản ánh bối cảnh lãi suất cao và thanh khoản thị trường đang chịu áp lực.